Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác bảo vệ môi trường giai đoạn hiện nay

Luận án tiến sĩ môi trường nghiên cứu đảng cộng sản việt nam lãnh đạo công tác bảo vệ môi trường giai đoạn hiện nay, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

191
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

1.1. Các công trình nghiên cứu về môi trường và bảo vệ môi trường

1.2. Các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với các lĩnh vực đời sống xã hội

1.3. Kết quả và những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở NƯỚC TA - NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1. Đảng Cộng sản Việt Nam và công tác bảo vệ môi trường ở nước ta

2.2. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác bảo vệ môi trường nước ta - khái niệm, nội dung và phương thức

3. CHƯƠNG 3: CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM

3.1. Thực trạng công tác bảo vệ môi trường ở nước ta

3.2. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác bảo vệ môi trường - thực trạng, nguyên nhân và kinh nghiệm

4. CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở NƯỚC TA ĐẾN NĂM 2030

4.1. Những thuận lợi, khó khăn và phương hướng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ môi trường nước ta đến năm 2030

4.2. Những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ môi trường ở nước ta đến năm 2030

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam trong bảo vệ môi trường

Bảo vệ môi trường (BVMT) là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đảng đã xác định BVMT không chỉ là mục tiêu mà còn là nội dung thiết yếu trong phát triển bền vững. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của BVMT trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo sức khỏe cho nhân dân. Những chính sách và nghị quyết của Đảng đã tạo ra khung pháp lý cho công tác BVMT, tuy nhiên, thực tiễn vẫn còn nhiều thách thức cần giải quyết.

1.1. Đảng Cộng sản Việt Nam và vai trò trong bảo vệ môi trường

Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định vai trò lãnh đạo trong công tác BVMT thông qua việc ban hành các nghị quyết và chỉ thị. Những văn bản này không chỉ định hướng mà còn tạo ra cơ sở pháp lý cho các hoạt động BVMT trên toàn quốc.

1.2. Chính sách môi trường của Đảng Cộng sản Việt Nam

Chính sách môi trường của Đảng Cộng sản Việt Nam được xây dựng dựa trên nguyên tắc phát triển bền vững. Đảng đã đề ra các mục tiêu cụ thể nhằm giảm thiểu ô nhiễm và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời khuyến khích sự tham gia của toàn xã hội trong công tác BVMT.

II. Những thách thức trong công tác bảo vệ môi trường hiện nay

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong công tác BVMT, nhưng thực tế vẫn còn nhiều thách thức lớn. Ô nhiễm môi trường gia tăng, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức, và ý thức bảo vệ môi trường của người dân còn hạn chế. Những vấn đề này đòi hỏi Đảng cần có những giải pháp mạnh mẽ hơn để nâng cao hiệu quả công tác BVMT.

2.1. Ô nhiễm môi trường và nguyên nhân

Ô nhiễm môi trường ở Việt Nam đang ở mức báo động, với nhiều nguyên nhân như phát triển công nghiệp không bền vững, quản lý tài nguyên kém và ý thức bảo vệ môi trường của người dân còn thấp.

2.2. Tác động của biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu đang gây ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trường và đời sống nhân dân. Đảng cần có những chính sách ứng phó kịp thời để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu đến môi trường.

III. Phương pháp lãnh đạo của Đảng trong công tác bảo vệ môi trường

Đảng Cộng sản Việt Nam đã áp dụng nhiều phương pháp lãnh đạo khác nhau trong công tác BVMT. Những phương pháp này bao gồm việc xây dựng chính sách, tổ chức thực hiện và kiểm tra giám sát. Đảng cũng chú trọng đến việc huy động sự tham gia của toàn xã hội trong công tác BVMT.

3.1. Xây dựng chính sách môi trường hiệu quả

Việc xây dựng chính sách môi trường hiệu quả là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng. Các chính sách này cần phải phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi cao để đảm bảo hiệu quả trong công tác BVMT.

3.2. Tổ chức thực hiện và giám sát

Đảng cần tổ chức thực hiện các chính sách BVMT một cách đồng bộ và hiệu quả. Việc giám sát thực hiện các chính sách này cũng rất quan trọng để đảm bảo tính nghiêm minh và hiệu quả trong công tác BVMT.

IV. Ứng dụng thực tiễn trong công tác bảo vệ môi trường

Các kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn trong công tác BVMT đã cho thấy những chuyển biến tích cực. Đảng đã chỉ đạo thực hiện nhiều chương trình, dự án nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng trong công tác BVMT.

4.1. Các chương trình bảo vệ môi trường thành công

Nhiều chương trình BVMT đã được triển khai thành công, góp phần nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của BVMT. Những chương trình này đã tạo ra những thay đổi tích cực trong hành vi của cộng đồng.

4.2. Kết quả nghiên cứu về bảo vệ môi trường

Các nghiên cứu về BVMT đã chỉ ra rằng, việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng là rất cần thiết. Những kết quả này sẽ là cơ sở để Đảng tiếp tục hoàn thiện các chính sách BVMT trong tương lai.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho công tác bảo vệ môi trường

Công tác BVMT cần được tiếp tục đẩy mạnh trong thời gian tới. Đảng Cộng sản Việt Nam cần xác định rõ các mục tiêu và phương hướng cụ thể để nâng cao hiệu quả công tác BVMT. Việc huy động sự tham gia của toàn xã hội và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường là rất quan trọng.

5.1. Định hướng phát triển bền vững

Đảng cần xác định rõ định hướng phát triển bền vững trong công tác BVMT. Điều này sẽ giúp đảm bảo sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.

5.2. Tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường

Hợp tác quốc tế trong công tác BVMT là rất cần thiết. Đảng cần chủ động tham gia vào các diễn đàn quốc tế để học hỏi kinh nghiệm và chia sẻ những thành tựu trong công tác BVMT.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 1. Công trình khoa học ở Việt Nam - Nguyễn Đức Khiển, Nguyễn Kim Hoàng, “Đạo đức môi trường” [92]. Các tác giả nhận định, sự phát triển của loài người song hành cùng sự phát triển của khoa học công nghệ, của máy móc hiện đại đã để lại nhiều tác động đến môi trường.

Tác giả đã giành chương 4 tập trung cho vấn đề đạo đức môi trường, bàn về khía cạnh đạo đức trong BVMT. Từ thực trạng của sự suy thoái môi trường hiện nay, tác giả luận giải, con người là nạn nhân của ô nhiễm, nhưng chính bản thân họ cũng là những thủ phạm gây nên những thảm họa về môi trường. Trong quá trình sinh sống do khai thác tài nguyên, thiên nhiên không hợp lý làm cho môi trường tự nhiên bị suy kiệt; do thiếu ý thức mà con người xả rác bừa bãi, nhận thức và ý thức BVMT kém đã làm cho môi trường bị suy thoái ngày càng nghiêm trọng - Đỗ Thị Ngọc Lan, “Môi trường tự nhiên trong hoạt động cuộc sống của con người” [99]. Tác giả nhận định: con người và xã hội loài người là bộ phận đặc biệt của tự nhiên, cho nên trước khi biến đổi được tự nhiên con người cần phải thích nghi được với nó; nhưng trong thực tế, con người hầu như không quan tâm tới mối liên hệ biến đổi và thích nghi, bất chấp quy luật tự nhiên, bất chấp sự giới hạn của giới tự nhiên và môi trường.

Theo tác giả, chính sự khai thác tài nguyên quá mức của con người đã làm suy thoái môi trường; phá vỡ tính đa dạng sinh học; hủy hoại các hệ sinh thái. Tác giả khẳng định, để phát triển bền vững mối quan hệ thích nghi và biến đổi môi trường tự nhiên, cần có những giải pháp đồng bộ; như, giữ tỷ lệ tăng dân số một cách hợp lý; trong sự tăng trưởng kinh tế cần có sự cân nhắc giữa chi phí và lợi ích, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; nhanh chóng áp dụng thành tựu của khoa học công nghệ mới vào khai thác tài nguyên và xử lý chất thải; đẩy mạnh giáo dục nhận thức về môi trường sống. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Nguyễn Minh Hằng, “Môi trường sinh thái - vấn đề của mọi người” [72] Tác giả khẳng định, môi trường suy thoái (MTST) là một mạng lưới chỉnh thể có mối liên quan chặt chẽ với nhau giữa đất, nước, không khí và các cơ thể sống trong phạm vi toàn cầu. Vì vậy, chỉ cần rối loạn, bất ổn định ở một khâu nào đó trong hệ thống sẽ gây ra hậu quả hết sức nghiêm trọng.

Trong quá trình sinh sống, con người là chủ thể bồi đắp cho thiên nhiên; nhưng cũng vì lợi ích và nhu cầu của cuộc sống, đã khai thác triệt để nguồn tài nguyên thiên nhiên (TNTN) làm suy thoái MTST, dần dần con người trở nên đối lập với thiên nhiên. Suy thoái môi trường làm cho trái đất nóng lên do “hiệu ứng nhà kính”; ô nhiễm nguồn nước ngày càng nghiêm trọng; tầng ôzon suy thoái tác động mạnh đến mọi sinh vật trên trái đất, làm giảm khả năng miễn dịch của con người, gia tăng bệnh tật. Tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm, trong cuốn sách “Môi trường sinh thái - vấn đề và giải pháp” [161]. Tác giả khẳng định: mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên là mối quan hệ biện chứng.

Theo tác giả, nghiên cứu, xem xét mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên thông qua cơ sở lý luận, phương pháp luận. Thứ nhất, tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của sự thống nhất biện chứng giữa xã hội, tự nhiên với con người; thứ hai, sự điều khiển một cách có ý thức mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên; thứ ba, sự phụ thuộc của con người, xã hội và tự nhiên vào trình độ phát triển của xã hội. Tác giả nhận định, cùng với sự phát triển của xã hội, sự tác động của con người, làm cho môi trường biến đổi theo chiều hướng ngày càng xấu đi. Nguyên nhân chính là từ nhận thức và ý thức của con người đối với môi trường hạn chế.

Để BVMT cần phải thay đổi quan niệm về tự nhiên; coi vấn đề giáo dục trở thành một nột dung quan trọng trong chương trình giáo dục và đào tạo. - Hà Huy Thành, Lê Cao Đoàn, “Vấn đề môi trường trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội theo hướng bền vững ở Việt Nam” [149]. Các tác giả đã phân tích và nhận định: tài nguyên, môi trường, một mặt, là cơ sở nền tảng của sự phát triển xã hội, bao gồm phát triển kinh tế và các lĩnh vực xã hội ngoài kinh tế; mặt khác, tài nguyên, môi trường là một bộ phận cấu thành của một hệ thống kinh tế xã hội; BVMT là bảo vệ nguồn lợi và nguồn vốn của con người thu được từ thiên nhiên. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Các tác giả đã dành một chương để trình bày kết quả nghiên cứu thực trạng những vấn đề môi trường và nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường; cụ thể là, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chủ yếu dựa vào khai thác, sử dụng nhiều TNTN mà không quan tâm đến việc sử dụng hợp lý tài nguyên và BVMT.

Điều đó đã dẫn đến tình trạng tàn phá, hủy diệt, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên; môi trường nước, không khí, rác thải ở cả đô thị và nông thôn bị ô nhiễm nghiêm trọng gây nhiều hệ lụy cho sự phát triển kinh tế, xã hội và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người; trong khi đó, việc quản lý nhà nước về môi trường còn nhiều bất cập. - Nguyễn Thị Khương, “Vai trò của Nhà nước trong việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở nước ta hiện nay” [97]. Dưới góc độ triết học, tác giả tập trung làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế với BVMT sinh thái và khẳng định: tăng trưởng kinh tế tác động tới bảo vệ MTST thông qua yếu tố người lao động, tài nguyên thiên nhiên, khoa học và công nghệ - là những yếu tố cơ bản quyết định tới sự tăng trưởng của nền kinh tế và ảnh hưởng tới quá trình bảo vệ MTST. Ngược lại, MTST giữ vai trò tiền đề, điều kiện tiên quyết cho sự hình thành, phát triển của con người cũng như nền sản xuất vật chất của xã hội; nó cung cấp những điều kiện vật chất - tức là nguồn tài nguyên thiên nhiên có sẵn để con người sản xuất ra của cải, duy trì sự sinh tồn và phát triển.

Vì vậy, tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo vệ MTST là hai nhiệm vụ quan trọng xuyên suốt, luôn đồng hành với nhau trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, nước ta đang đối mặt với nhiều thách thức, hàng loạt mâu thuẫn nẩy sinh giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ MTST đòi hỏi phải nhận thức, tìm cách giải quyết để đưa đất nước phát triển ngày càng bền vững. - Nguyễn Đức Trí, Nguyễn Thị Hoàng Yến, “Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam” [162]. Các nhà khoa học nhận định, muốn phát triển bền vững phải tính đến yếu tố môi trường.

Môi trường tự nhiên và sản xuất xã hội có quan hệ chặt chẽ, khăng khít, tác động qua lại lẫn nhau. Chính trong quá trình sản xuất, con người do thiếu ý thức, thiếu hiểu biết, tận khai thác đã và đang tác động tiêu cực đến môi trường; hủy hoại những giá trị của môi trường. Các tác giả đã đánh giá cụ thể về hiện trạng của ô LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 nhiễm môi trường; như, mức độ ô nhiễm ở hạ lưu các con sông ngày càng tăng, chất lượng đất và diện tích đất canh tác bị thu hẹp, ô nhiễm không khí, tiếng ồn giao thông… sẽ gây ra nhiều hậu quả xấu cho đời sống, sức khỏe con người, cho sự phát triển kinh tế - xã hội; hậu quả đó không phải chỉ một quốc gia phải gánh chịu và còn gây hậu quả trên phạm vi toàn cầu. - Trần Thiết, “Bảo vệ môi trường để phát triển bền vững” [155].

Tác giả chỉ rõ, mức độ nguy hiểm của biến đổi khí hậu toàn cầu và suy giảm môi trường; trong đó, Việt Nam là nước ảnh hưởng nặng nề nhất. Theo tác giả, nguyên nhân dẫn tới môi trường bị suy giảm, ngoài yếu tố khách quan có nguyên nhân chủ quan thuộc về nhận thức và ý thức của người dân và chủ doanh nghiệp. Việc BVMT để phát triển bền vững là trách nhiệm của cả HTCT, của toàn dân, mà trước hết là vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng. Lê Thị Thanh Hà,“Vai trò của nhà nước đối với việc bảo vệ môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam” [69].

Tác giả khái quát đặc điểm của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam, chỉ rõ những tác động tiêu cực của CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn đến môi trường nước ta hiện nay, như: chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tác động trực tiếp đến môi trường; quá trình đô thị hóa đã thu hẹp tài nguyên đất sản xuất nông nghiệp; dân số tăng cộng với các dịch vụ khác đã gây sức ép lớn cho môi trường; sự phát triển của làng nghề làm gia tăng chất thải nguy hại; tác động của việc khai thác khoáng sản làm nảy sinh vấn đề môi trường bức xúc. Tác giả khẳng định vai trò của nhà nước trong CTBVMT thời gian qua và chỉ rõ những hạn chế, bất cập của pháp luật BVMT; hạn chế của tổ chức bộ máy; hạn chế trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia BVMT. - Trương Mạnh Tiến, “Sự phát triển của thương mại tự do trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay với vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái” [159]. Tác giả đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về tự do thương mại và bảo vệ MTST ở nước ta.

Khi nghiên cứu về nền kinh tế thị trường và quá trình tự do hóa thương mại, tác giả phân tích mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ