Tổng quan nghiên cứu
Theo báo cáo của ngành xây dựng, nhu cầu cát xây dựng cả nước giai đoạn 2016-2020 ước tính lên đến khoảng 2,3 tỷ m3, trong khi tổng trữ lượng cát tự nhiên được cấp phép chỉ còn khoảng 2 tỷ m3, dẫn đến nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên và gia tăng xói lở bờ sông, bờ biển. Đồng thời, nhằm hạn chế khai thác đất sét gây ảnh hưởng đến khoảng 1.000 ha đất nông nghiệp mỗi năm, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 567/QĐ-TTg và Chỉ thị số 10/CT-TTg đặt mục tiêu nâng tỷ lệ vật liệu xây không nung lên 30% đến 40% vào năm 2020. Tại tỉnh Khánh Hòa, các nhà máy dệt may sử dụng hệ thống lò hơi đốt than đá thải ra hơn 15.000 tấn tro xỉ mỗi năm, riêng Công ty Cổ phần Dệt may Nha Trang thải ra hơn 1.600 tấn tro xỉ rắn mỗi năm và tiếp tục tăng thêm trên 500 tấn mỗi năm khi mở rộng quy mô sản xuất. Trong khi thời hạn lưu bãi chứa phế thải tro xỉ không quá 2,5 năm theo quy định môi trường, việc xử lý nguồn chất thải rắn công nghiệp này là một thách thức cấp bách.
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật của tác giả Nguyễn Duy Phương tập trung giải quyết bài toán: nghiên cứu xác định hàm lượng xi măng hợp lý trong thành phần cấp phối để sản xuất gạch xi măng không nung mác M7,5 khi thay thế 50% khối lượng đá mạt bằng nguồn xỉ than lò hơi của Công ty Cổ phần Dệt may Nha Trang. Nghiên cứu được thực hiện tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa vào năm 2019, kết hợp kiểm định mẫu trong phòng thí nghiệm chuyên ngành và thử nghiệm trực tiếp trên dây chuyền ép gạch công nghiệp của Nhà máy gạch Thuận Phát có công suất hàng chục triệu viên mỗi năm. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi vừa cắt giảm 100% việc sử dụng cát tự nhiên, giảm 50% khối lượng đá mạt khai thác từ mỏ đá Hòn Ngang, vừa tái chế triệt để nguồn phế thải rắn lò hơi công nghiệp, hạ giá thành sản xuất và đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng hiện hành.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết đóng rắn và hình thành cấu trúc cường độ của bê tông xi măng cốt liệu ép bán khô không nung. Quá trình phát triển cường độ chịu nén của viên gạch phụ thuộc chặt chẽ vào phản ứng thủy hóa của khoáng xi măng để tạo thành màng gel C-S-H kết nối các hạt cốt liệu rời rạc gồm mạt đá và xỉ than nghiền. Bên cạnh đó, mô hình cấp phối hạt tối ưu theo định luật Fuller và viện dẫn các tiêu chuẩn quốc gia làm nền tảng định lượng, bao gồm: Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6477:2016 quy định yêu cầu kỹ thuật cho gạch bê tông, Tiêu chuẩn TCVN 9205:2012 áp dụng cho cát nghiền nhân tạo từ đá và xỉ mạt, Tiêu chuẩn TCVN 6260:2009 đối với xi măng poóc lăng hỗn hợp PCB40, và Tiêu chuẩn TCVN 4506:2012 kiểm soát chất lượng nước trộn bê tông và vữa.
Bốn khái niệm kỹ thuật trọng tâm xuyên suốt nghiên cứu gồm:
- Cường độ chịu nén: Ứng suất nén tối đa mà viên gạch có thể chịu được trước khi bị phá hủy hoàn toàn dưới lực ép của máy nén chuyên dụng, tính bằng MPa.
- Khối lượng thể tích xốp: Khối lượng của một đơn vị thể tích cốt liệu ở trạng thái xốp tự nhiên, quyết định trực tiếp đến thể tích vữa tạo khuôn và số lượng viên gạch sản xuất ra trên 1.000 kg phối liệu.
- Độ hút nước và độ thấm nước: Chỉ số biểu thị khả năng xâm nhập và dẫn truyền nước qua hệ thống mao dẫn rỗng của viên gạch, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chống ẩm và độ bền lâu của tường xây công trình.
- Thành phần cấp phối tối ưu: Tỷ lệ phối trộn cân đối giữa chất kết dính (xi măng), cốt liệu nhỏ (đá mạt, xỉ than) và nước nhằm đạt mác cường độ thiết kế với chi phí giá thành vật liệu thấp nhất.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thực nghiệm sơ cấp, thu thập từ các thí nghiệm cơ lý vật liệu đầu vào và các tổ mẫu gạch thành phẩm kích thước 180×80×80 mm có 4 lỗ rỗng. Vật liệu đầu vào gồm xi măng Phúc Sơn PCB40, đá mạt mỏ Hòn Ngang (kích cỡ hạt 0,14 mm đến 5,0 mm), xỉ than lò hơi dệt may Nha Trang đã qua xử lý nghiền đập và sàng lọc loại bỏ hạt quá cỡ, cùng nước sạch sinh hoạt có độ pH từ 4,0 đến 12,5 và hàm lượng muối hòa tan dưới 10.000 mg/lít.
Phương pháp chọn mẫu tuân thủ nghiêm ngặt theo TCVN 4787:2009 đối với xi măng và TCVN 6477:2016 đối với gạch thành phẩm. Tại mỗi cấp phối khảo sát, tác giả chế tạo các tổ mẫu thử nghiệm gồm 3 viên nguyên khối độc lập cho mỗi mốc thời gian dưỡng hộ 3, 7, 14, 21 và 28 ngày để đo lực phá hủy nén, cùng tổ mẫu 5 viên để kiểm tra độ hút nước và 3 viên để đo độ thấm nước. Cỡ mẫu tổng cộng lên đến hơn 60 viên gạch thử nghiệm trải dài trên 6 cấp phối nghiên cứu (từ CP0 đến CP5). Lý do lựa chọn phương pháp phân tích nén phá hủy trên máy ép có thang lực kiểm soát từ 20% đến 80% tải trọng cực đại với tốc độ tăng tải chuẩn (0,6 ± 0,2) MPa/s là nhằm triệt tiêu sai số quán tính cơ học, đảm bảo độ tin cậy thống kê chính xác đến 0,1 MPa và đáp ứng chuẩn hóa quy chuẩn xây dựng quốc gia. Toàn bộ chu trình chuẩn bị vật liệu, đúc mẫu trên máy ép rung Thuận Phát và bảo dưỡng ẩm được thực hiện xuyên suốt trong giai đoạn 2018-2019.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình thí nghiệm cơ lý vật liệu và chế tạo thử nghiệm gạch xi măng cốt liệu xỉ than đã mang lại những kết quả định lượng cụ thể:
Thứ nhất, xỉ than lò hơi dệt may sau khi nghiền đập có khối lượng thể tích xốp chỉ đạt 609 kg/m3, nhẹ hơn 63,18% so với đá mạt tự nhiên (1.654 kg/m3). Khối lượng riêng của xỉ than đạt 1,731 g/cm3 (so với đá mạt là 2,786 g/cm3), hàm lượng bụi bùn sét chiếm 29,7% (so với đá mạt là 11,53%). Khi phối trộn cốt liệu theo tỷ lệ 50% khối lượng đá mạt và 50% khối lượng xỉ than, đường cong tích lũy thành phần hạt hoàn toàn nằm trong giới hạn cho phép của tiêu chuẩn TCVN 9205:2012.
Thứ hai, khi giữ nguyên hàm lượng xi măng ở mức 15% khối lượng mẻ trộn 1.000 kg (cấp phối CP1) giống như cấp phối đối chứng của nhà máy (CP0), cường độ chịu nén 28 ngày của viên gạch chỉ đạt 5,10 MPa, giảm 32,72% so với cấp phối CP0 đạt 7,58 MPa. Nguyên nhân là do xỉ than có khối lượng thể tích nhẹ khiến thể tích phối liệu tăng lên, dẫn đến 1 mẻ trộn 1.000 kg sản xuất được tới 725 viên gạch (tăng 137 viên so với 588 viên của CP0). Lượng xi măng thực tế phân bổ cho mỗi viên gạch ở CP1 bị sụt giảm nghiêm trọng từ 0,255 kg xuống còn 0,206 kg (giảm 19,22%).
Thứ ba, việc điều chỉnh tăng tỷ lệ xi măng theo khối lượng phối liệu từ 18% (CP2: 186,5 kg xi măng), 20% (CP3: 212,5 kg xi măng), 22% (CP4: 239,7 kg xi măng) đến 24% (CP5: 268,5 kg xi măng) đã giúp cường độ nén tăng trưởng rõ rệt qua các mốc thời gian 3, 7, 14, 21 và 28 ngày. Tại cấp phối CP4 với hàm lượng xi măng 22%, cường độ chịu nén 28 ngày đạt trên 7,5 MPa, đáp ứng hoàn toàn mác M7,5 theo TCVN 6477:2016. Lượng nước nhào trộn tối ưu cho CP4 là 281 lít/mẻ trộn, giúp hỗn hợp đạt độ dẻo công tác tốt và đảm bảo viên gạch khi tách khuôn không bị nứt vỡ hay sứt mẻ góc cạnh.
Thảo luận kết quả
Sự suy giảm cường độ chịu nén ban đầu ở cấp phối CP1 được giải thích bởi diện tích bề mặt riêng của xỉ than rất lớn và cấu trúc nhiều lỗ rỗng mao quản, đòi hỏi lượng nước nhào trộn tăng cao từ 80 lít lên 176 lít (tỷ lệ Nước/Xi măng tăng từ 0,53 lên 1,17). Điều này làm loãng nồng độ hồ xi măng bao bọc cốt liệu. Khi nâng hàm lượng xi măng lên 22% ở cấp phối CP4, lượng hồ xi măng đủ để lấp đầy các vi lỗ rỗng của hạt xỉ và tạo liên kết tinh thể ngậm nước C-S-H vững chắc tại vùng tiếp giáp giữa đá mạt và xỉ than.
Khi so sánh với các nghiên cứu trước đây về việc sử dụng tro xỉ nhiệt điện (thường chỉ thay thế từ 10% đến 20% hoặc tối đa 42,8% đá mạt mà không bù trừ tỷ lệ thể tích phối liệu), nghiên cứu này đã tạo ra bước đột phá khi nâng mức thay thế lên 50% đá mạt mà vẫn đạt mác M7,5. Dữ liệu thực nghiệm của đề tài được thể hiện sinh động qua các bảng tổng hợp cấp phối định mức cho 1 mẻ trộn (1.000 kg đến 1.118,5 kg) và biểu đồ đường biểu diễn sự phát triển cường độ chịu nén theo chuỗi thời gian 3, 7, 14, 21, 28 ngày. Đồng thời, biểu đồ cột so sánh độ hút nước (<12%), độ rỗng và độ thấm nước giữa CP0, CP1 và CP4 minh chứng rõ ràng rằng việc sử dụng xỉ than lò hơi với 22% xi măng hoàn toàn tương đương về mặt cơ lý so với gạch xi măng cốt liệu truyền thống nhưng khối lượng thể tích nhẹ hơn, giúp giảm đáng kể tĩnh tải cho kết cấu công trình.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm và phân tích hiệu quả kinh tế - kỹ thuật, các giải pháp cụ thể được đề xuất như sau:
Một là, áp dụng ngay cấp phối chuẩn CP4 (hàm lượng xi măng PCB40 chiếm 22% tổng khối lượng phối liệu khô, cốt liệu gồm 50% đá mạt và 50% xỉ than lò hơi) vào dây chuyền sản xuất gạch block không nung 4 lỗ kích thước 180×80×80 mm. Đơn vị thực hiện là các doanh nghiệp sản xuất gạch không nung tại Khánh Hòa và khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ, đặt mục tiêu duy trì cường độ nén 28 ngày đạt mác M7,5 (tối thiểu 7,5 MPa) và giảm chi phí nguyên liệu đá mạt từ 8% đến 12% trên mỗi viên gạch thành phẩm trong vòng 3 đến 6 tháng tới.
Hai là, đầu tư hệ thống máy nghiền đập con lăn và sàng phân loại chuyên dụng tại các cơ sở sản xuất gạch để tiền xử lý xỉ than lò hơi. Chủ thể thực hiện là ban giám đốc kỹ thuật của các nhà máy gạch, với mục tiêu kiểm soát cỡ hạt xỉ dưới 5,0 mm, mô đun độ lớn từ 2,0 đến 3,3 và loại bỏ triệt để các khối xỉ vón cục kích thước lớn, hoàn thành việc lắp đặt và hiệu chuẩn trong vòng 6 tháng.
Ba là, thiết lập chuỗi liên kết quản lý và chuyển giao phế thải rắn giữa các doanh nghiệp dệt may, nhà máy nhiệt điện đốt than với các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng trên địa bàn. Chủ thể chủ trì là Sở Xây dựng phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Khánh Hòa, hướng tới mục tiêu tiêu thụ 100% lượng xỉ than phát sinh (trên 15.000 tấn/năm) giai đoạn 2020-2025, giải phóng hoàn toàn các bãi chứa tạm và ngăn ngừa rủi ro ô nhiễm nguồn nước ngầm.
Bốn là, ban hành quy trình chuẩn hóa chế độ bảo dưỡng ẩm cho gạch xi măng xỉ than. Đội ngũ kỹ thuật nhà máy cần thực hiện che phủ và phun ẩm liên tục trong tối thiểu 72 giờ đầu sau khi ép định hình, duy trì dưỡng ẩm đến 28 ngày trước khi xuất xưởng nhằm triệt tiêu hiện tượng nứt vi mô do xỉ than hút nước nhanh trong quá trình thủy hóa ban đầu.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:
- Các doanh nghiệp sản xuất gạch không nung và vật liệu xây dựng: Nhận được công thức cấp phối tối ưu (CP4 với 22% xi măng), định mức nguyên vật liệu chi tiết cho mẻ trộn công nghiệp và phương pháp kiểm soát độ dẻo, giúp giảm chi phí mua đá mạt và hạ giá thành cạnh tranh trên thị trường vật liệu xanh.
- Ban quản lý môi trường tại các nhà máy dệt may, nhà máy nhiệt điện: Nắm bắt quy trình công nghệ tái chế chất thải rắn xỉ than lò hơi thành vật liệu có ích, giải quyết triệt để áp lực quá tải bãi thải và giảm thiểu chi phí xử lý môi trường theo quy định của pháp luật.
- Kỹ sư xây dựng, tư vấn giám sát và chủ đầu tư dự án dân dụng: Có cơ sở dữ liệu khoa học về các chỉ tiêu cơ lý (cường độ nén M7,5, khối lượng thể tích nhẹ, độ thấm nước) của gạch bê tông xỉ than để tự tin đưa vào thiết kế khối xây tường bao che, tường ngăn, giảm tải trọng cho hệ móng và kết cấu chịu lực của công trình.
- Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Kỹ thuật Xây dựng, Vật liệu Xây dựng: Sử dụng làm tài liệu tham khảo học thuật giá trị về phương pháp luận nghiên cứu thực nghiệm, thiết kế cấp phối bán khô và các tiêu chuẩn kiểm định cơ lý bê tông theo hệ thống TCVN hiện hành.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao thay thế 50% đá mạt bằng xỉ than ở cấp phối CP1 lại khiến cường độ gạch giảm sâu xuống 5,10 MPa? Do xỉ than có khối lượng thể tích xốp rất nhẹ (609 kg/m3 so với 1.654 kg/m3 của đá mạt), mẻ trộn 1.000 kg phối liệu có thể tích tăng lên và tạo ra tới 725 viên gạch thay vì 588 viên như cấp phối đối chứng. Lượng xi măng trên mỗi viên gạch bị phân tán, giảm từ 0,255 kg xuống 0,206 kg khiến màng gel liên kết bị yếu.
2. Hàm lượng xi măng 22% ở cấp phối CP4 mang lại những ưu điểm kỹ thuật vượt trội nào? Cấp phối CP4 bù đắp lượng xi măng bị thiếu hụt trên mỗi đơn vị thể tích, giúp viên gạch đạt cường độ nén 28 ngày trên 7,5 MPa (đạt chuẩn mác M7,5), độ hút nước dưới 12% và độ thấm nước dưới 350 ml/m2.h theo TCVN 6477:2016, đồng thời giữ hình dáng sắc nét, không nứt nẻ sau khi tháo khuôn.
3. Xỉ than từ lò hơi dệt may có cần qua xử lý kỹ thuật phức tạp trước khi trộn không? Không cần quy trình hóa học phức tạp, xỉ than chỉ cần trải qua công đoạn cơ học gồm nghiền đập và sàng lọc để đảm bảo cỡ hạt tối đa dưới 5,0 mm, thành phần hạt mịn đồng đều tương đương cát nghiền nhân tạo theo TCVN 9205:2012 trước khi đưa vào phễu nạp liệu của máy trộn.
4. Việc sử dụng xỉ than dệt may mang lại lợi ích môi trường và kinh tế thực tế ra sao? Giải pháp này giúp tái chế toàn bộ hơn 1.600 tấn xỉ than/năm của Dệt may Nha Trang và đóng góp xử lý 15.000 tấn xỉ than trên toàn tỉnh Khánh Hòa, xóa bỏ bãi thải nguy hại. Về kinh tế, việc thay thế 50% đá mạt và không dùng cát tự nhiên giúp giảm 8% đến 12% chi phí nguyên liệu cho nhà máy gạch.
5. Gạch không nung mác M7,5 từ xỉ than lò hơi phù hợp cho những hạng mục xây dựng nào? Theo tiêu chuẩn xây dựng, gạch mác M7,5 hoàn toàn đáp ứng yêu cầu kỹ thuật cho hệ tường xây chịu lực trong các công trình nhà ở thấp tầng, tường ngăn không chịu lực, tường bao che và tường ngăn phân chia không gian trong các tòa nhà cao tầng yêu cầu vật liệu nhẹ cách âm cách nhiệt tốt.
Kết luận
- Đã xác định thành công các đặc tính cơ lý của xỉ than lò hơi Dệt may Nha Trang với khối lượng thể tích xốp 609 kg/m3 và chứng minh khả năng thay thế 50% khối lượng đá mạt làm cốt liệu cho gạch không nung.
- Khẳng định tỷ lệ xi măng 15% ban đầu (CP1) làm giảm 32,72% cường độ chịu nén do sự gia tăng thể tích phối liệu làm suy giảm lượng chất kết dính trên từng viên gạch.
- Tìm ra hàm lượng xi măng tối ưu là 22% (cấp phối CP4), giúp gạch đạt cường độ nén 28 ngày vượt mác M7,5 và thỏa mãn mọi chỉ tiêu cơ lý theo TCVN 6477:2016.
- Đề xuất quy trình công nghệ nghiền đập xỉ than và chế độ bảo dưỡng ẩm 72 giờ đầu để triển khai ứng dụng thực tế tại các nhà máy vật liệu xây dựng giai đoạn 2020-2025.
- Kêu gọi các chủ đầu tư, kỹ sư xây dựng và doanh nghiệp sản xuất nhanh chóng áp dụng cấp phối gạch xi măng cốt liệu xỉ than để hiện thực hóa mục tiêu phát triển công trình xanh và bảo vệ tài nguyên môi trường.