MỞ ĐẦU Quyền rêng tưlà một quyền con người được ghi nhận bảo vệ bởi pháp luật quốc, tế. Đối với thiết chế quốc t, Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính tị chính là hai văn bản cơ bản và quan trong nhất. Đối với thiết chế khu wwe, hiện chỉ có bắn trên năm châu lục có thiết chế bảo vệ quyền con người nói chung và quyển riêng tr nói riêng. Trong đó, Công ước châu Âu về Nhân.
quyền đặt ra những quy định cụ thé và công phu hơn cả, thể hiện rõ quan điểm về ran giới giữa hai nội dung đối lập cần được bảo vệ: quyền riêng tư của cá nhân và lợi ích công cộng, 'NỘI DUNG L. Quyền riêng tư trong thiết chế quốc tế "Trước khi tìm hiểu về quyền riêng tư trong thiết chế quốc tế, cần khẳng định day Ta một quyền rất đặc biệt bởi nếu các quyền con người khác được “nâng tầm” từ quốc. gia lên quốc tế thì ngược lại, quyền riêng tr được bảo dim trong pháp luật quốc tẾ trước. cả trong hiến pháp của các quốc gia.
Những năm sau chiến tranh thé giới thứ I, bệ thống quyền con người được đặt ra trong hiến pháp, xong chỉ bảo vệ đơn thuần một số. Khia cạnh của quyền riêng tr như quyền bất khả xâm phạm nơi ở và thư tín, hay quyền. chống lại những khám xét cơ thể v6 lý.` Hơn nữa, mức độ bảo vệ quyỀn riêng tư vỀ not ở cũng có sự khác biệt tùy từng thời điểm khác nhau trong ngày đối với một số quốc gia ‘Nam Mỹ Tóm lại, các quốc gia chỉ mới manh nha tiếp cận những quyền riêng rễ, bộ "hận mà chưa thắng nhất nghiên cứu và nhận thức được một khái niệm bao trùm hơn ¢umbrealla term) như quyền riêng tư, hay quyền về đời sống riêng tr. ‘Vin bản đặt nền móng cho quyền riêng tư nói riêng và các quyén cơ bản của com người nói chung là Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (ODER), được Đại hội đồng Liên Hop Quốc thông qua ngày 10/12/1948 spi Pars, Phép.
Tiếp đó, quyền riéng tư được ghi nhận tại Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị ICCPR); Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em (CRO) (1990); Công ước quốc tế về bảo vệ Quyền của tắt cả những người lao động di trú và các thành viên gia đình họ (1990); Công wc Quốc tế về Quyền của Người Khuyết tật(CRPD) (2006); và các Vấn bản của kha rực. Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) "iy, Tu ein án thứ TY của Hin pháp Hoa KỲ, ` Ngi chung, việc vào nhà người khốc bị cm tuyệt đối và bạn đêm và cắm có điều iện vào bạn nay. (Xem: Điều 16 Hin pháp Bolivia; Điu 14] Hiển phép Brazil il HH hip Cia Đâu Hắn hp Hoi) ‘Nhu đã khẳng định, đây là văn bản chính thức quốc tế hóa quyền riêng tư thành “quyền con người, với bai giai đoạn soạn thảo: G giai doen 1, Ủy ban soạn thảo gii bản đề xuất lên Hội đồng Nhân quyền Liên Hp quốc, sau đó được chỉnh sửa bai nhóm chuyên gia và đệ trinh lên Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên Hợp Quốc (ECOSOC) cuối năm 1947 và các quốc gia thành viên đóng góp ý kiến đầu năm 1948, "Phiên bản đầu liên của quy định như sau: “No one shall be subjected to arbitrary searches or seizures, or to unreasonable interference with his person, home, family relations, reputation, privacy, activities, or personal property. The secrecy of correspondence shall be respected.” ‘Nhu vậy, quy định bắt đầu bing những nội him kinh điển của quyền riêng tơ, đó là những khám xét và tước đoạt tùy tiện ~ với diễn dạt rõ rằng đã mượn từ Hiến pháp ‘My.
Hơn nữa, sự riêng tư, đáng lẽ phải là thuật ngữ bao trim, lại nằm ở vị trí thứ năm. như thể đây chỉ là một khía cạnh của không gian riêng tư. G giai đoạn 2, Ủy ban soạn thio cân nhắc gópý của các quốc gia và nghiên cín: sửa, đệ tình lạ lên 116i đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc để Hội đồng soạn li dự thảo gửi tới BCOSOC và cuối cing, là tới Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc vào thing 12 năm 1948, Phién bản thứ hai đã có một sự thay đổi đáng kể, đó là việc loại bỏ hoàn toàn sự xuất hiện của quyển riêng tư hay quyền về đời sống riêng ne: “Everyone is entitled to protection under the law from unreasonable interference with reputation, family, home or correspondence.” Đáng lưu ý các bên tham gia không hề lưu tâm đến thay đổi này, cũng không he từ mang coi là những chỉnh lý ngôn diva ra li giới thích, khả năng cao bởi dây chỉ được tính kỹ thuật chứ không phải mang giá trị pháp lý. Thậm chí, đại diện của nước Úc còn thing thin khẳng định hai phiên bản rt giống nhau.
Sở dĩ, ở thời diém đó, những thảo tufa ở Ủy ban chủ yếu về việc có nên quy định quyền riêng tr về gia đình hay không và nên quy định theo hướng bảo đảm sự áo vekhét những xôm pham hay bảo đảm quyờn tue do Hỏi những xâm phạm ` RO ràng, yêu cầu bảo v8 & hướng thứ nhất đi hỏi nhiều nghĩ vụ từ các quốc gia hơn là chỉ đơn thuần tn trọng te do như ở hướng thứ hủ: Sau đó, Hội đồng Nhân quyển khi soạn thảo lại đã đưa ra hai thay đổi có tinh ‘bude ngoặt nhất: (i) không những đề cập đến khái niệm “quyền riêng tư” mà còn (ii) đặt nó ở ngay đầu quy định, từ đó cho phép “quyền riêng tư” được hiểu là thuật ngữ bao > Oliver Diggsimann và Maria Nisole Cis, “How the Right lo Privacy Became a Human Right”, Tập chí Human Rights Law Review, ob 14,2014, r 467 4 trùm: “No one shall be subjected to unreasonable interference with his privacy, family, home, correspondence or reputation.” Các biên bản nghị sự đều không nói rõ quá trình dẫn tới những thay đổi quan trọng nói trén.Chi biết rằng, có một số phiên bản được đưa ra thảo luận và cuối cùng, ban đề xuất của Trung Quốc được lựa chọn. Từ đó, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc chính. thức đưa nội dưng này vào Điều 12 UDHR như sau: “No one shall be subjected to arbitrary interference with his privacy, family, home or correspondence, nor to attacks upon his honour and reputation. Everyone has the right to the protection of the law against such interference or attacks.” (Tam dịch: Không ai phải chịu sự can thiệp một cách tu) tiện vào đời sống riêng te, gia dinh, nơi ở hoặc thư tia, cũng như bị xâm phạm, đến danh dự và tụ tin.
Mọi người đều có quyén được pháp luật bảo vệ chẳng lại những. can thiệp hoặc xâm phạm như vay.) “Tom hạ, ừ lịch sử hình thành quy định về quyền riêng tư ð UDHR, có thê thiy, những khác biệt diễn ra qua tùng phiên bản dự thảo không được giải tình hay cân nhắc tập thể, mà chỉ được coi là sự biến đổi kỹ thuật đơn thuần trong công tác biên tập lúc bay giờ. Do đó, hình hài về quyền riêng tư trong Điều 12 UDHR với nội hàm tương đối đầy đủ và sắp xếp hợp lý, khả năng cao chỉ là một sự ngẫu nhiên chứ không phải là kết qué của những tính toán khoa học có chủ đích. Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính tị (CCPR) ICCPR là một công ước quốc tế do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày.
16/12/1966 và có hiệu lực từ ngày 23/03/1976. Công óc nêu tổng quan các quyền dn ty và chính tr cơ bản của cơn người và được Việt Nam gia nhập từ ngày 24/9/1982 Điệu 17 ICCPR quy định: “1. No one shall be subjected to arbitrary or unlawful interference with his privacy, family, home or correspondence, nor to unlavful attacks on his honour and reputation. Everyone has the right to the protection of the law ‘against such interference or attacks.” (Tam dich: Không ai bị can thiệp một cách tu) tiện hoặc bắt hợp pháp vào đồi sống riêng te, gia đình, nơi ở, hoặc th tín cũng như bị xâm phạm bắt hợp pháp đến danh dự và wy tin.
Mọi người đầu có quoén được pháp luật bảo vệ chẳng lại những can thiệp hoặc xâm phạm như vay.) Nhe vậy, so với UDHR, rõ rằng, ICCPR đã bổ sung một giới hạn bảo vệ rất “quan trong của quyền riêng tr, đ là khỏi những can thiệp bất hop pháp. Tuy nhiên, hai văn bản đều không đưa ra định nghĩa Quyền riêng tr mà chỉ đặt ra các quy định cắm về mặt hành vị, dựa trên bai tư trởng cốt lõi Thứ nhất, sự iêng tư trong khoảng cách giữa cá nhân với xã hội, thể hiện ở việc một người có quyển được ở yên, tách biệt khỏixã: * Thực t,t hiền nỗ lực định nghĩa Quyền ving tr đều cho tly đây là một khái niện pháp ý rất khó để cất ng 6 ring ữ, 5 hội.Mặt khác, sự riêng tư cũng bảo vệ mối quan hệ của cá nhân với xã hội, chẳng hạn. như danh tiếng trước đám đông ‘Theo quan điểm của Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc (CCR); quy định này. hầm chắc chin ring quyền riêng tr sẽ không bi xm phạm hoặc tin công bởi quyền le Nhà nước, hoặc bởi các cá nhân và pháp nhân khác trong xã hội.
Nghĩa vụ phát sinh. từ quy định này buộc các quốc gia phải ban hành đạo luật để cung cấp những hàng rào cắm hữu hiệu khỏi những xâm phạm nói trên. 'CCPR đặc biệt lm ý rằng, sự bảo vệ này áp dụng đối với cả những can thiệp tùy tiện và những can thiệp bit hop pháp. Cụ thể, “bắt hợp pháp” nghĩa là không một sự can thiệp nào được cho phép, trừ những trường hợp được quy định bởi pháp luật.
Các ‘quée gia chỉ được can thiệp đựa trên căn cứ pháp luật, và bản thân quốc gia cũng phải tuân thủ những quy định, mục tiêu, mục đích của ICCPR. Hơn nữa, mặc dù về hình thức, Điều 17 sử dụngtừ hodc để kết nối hai điều kiện nhưng theo lý giải của CCPR, về bản chất, quy định trên phai hiểu là một sự kết hợp: ngay cả khi sự can thiệp một cách tùy tiện được cho phép bởi pháp luật quốc gia thi cũng phái phủ hợp với các quy định, mục tiêu, mye dich của ICCPR và phải luôn thực sự hợp lý trong từng hoàn cảnh cụ thể, hợp thành bởi các cá nhân nên việc bảo CCPR cũng thừa nhận rằng xã hội được VỆ quyền riêng tư chỉ có thể mang tính tương đối. Tuy th, các cơ quan nhà nước có thấm quyền cũng chỉ được thu nạp các thông tin liên quan đến đời tư của một người nến vige biết thông tin đó là quan trọng đối với lợi ích của xã hội.