BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI KỶ YÊU HỘI THẢO KHOA HỌC THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VIỆC DAN SU - NHUNG VAN DE LY LUẬN VÀ THỰC TIEN Ha Nội, ngày 25/11/2021 MỤC LỤC STT BÀI VIET Trang 1 | Những quy định chung về thủ tục giải quyết việc dân sự 1 ThS. Phan Thanh Dương - Khoa Pháp luật Dân sự 2 | Công nhận kết quả hòa giải thành ngoài tố tụng 9 PGS. Bùi Thị Huyền — Khoa Pháp luật Dán sự TS. Nguyên Thị Hương - TAND huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên 3 | Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu 23 PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà — Khoa Pháp luật Dân sự 4 | Bình luận về thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mat năng | 37 lực hành vi dân sự theo quy định của BLTTDS năm 2015 ThS.
Đặng Quang Huy - Khoa Pháp luật Dân sự ThS. Đặng Quang Huy — Khoa pháp luật dan sự 5 | Ttuyên bố mắt tích theo quy định của pháp luật Việt Nam và thực | 45 tiễn thực hiện ThS. Vũ Hoàng Anh — Khoa Pháp luật Dân sự 6 | Tuyên bố chết theo quy định của pháp luật Việt Nam 55 TS. Nguyễn Văn Hoi - Khoa Pháp luật Dân sự 7 | Hủy việc kêt hôn trái pháp luật theo pháp luật Việt Nam và thực | 68 tiễn thực hiện PGS.TS Tran Anh Tuần - Khoa Pháp luật Dán sự 8 | Thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn theo quy | 85 định của BLTTDS năm 2015 TS.
Tran Phương Thảo - Khoa Pháp luật Dân sự 9 | Giải quyết yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho | 93 cha, mẹ TS. Bùi Minh Hong — Khoa Pháp luật Dân sự NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VE THỦ TỤC GIẢI QUYET VIỆC DAN SỰ ThS. Phan Thanh Dương — Khoa Pháp luật Dân sự Tom tat bài viết: Bài việt phan tích, bình luận một sô vân dé chung về thủ tục giải quyêt việc dân sự trong thủ tục tô tụng dân sự tại Tòa án. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một sô vân đê tranh luận và kiên nghị về thủ tục giải quyết việc dân sự.
Từ khóa: Thủ tục giải quyết việc dân sự, tô tụng dân sự, việc dân sự Nội dung đoạn | của Điều 361 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 đã đưa ra khái niệm thé nào là “việc din sự”. Theo khái niệm này cho thấy, đặc trưng nồi bật của việc dân sự (VDS) là không có tranh chấp quyên, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thé. Đây cũng là điểm khác nhau co bản về ban chất giữa VDS và vụ án dân sự (VADS). Vụ án dân sự được phát sinh là do tranh chấp về quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các đương sự mà họ không giải quyết được nên một trong số họ đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong khi đó, VDS chỉ xuất hiện một tuyến chủ thé và chính chủ thé này yêu cầu Tòa án xem xét để công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý từ đó làm căn cứ phát sinh quyên, nghĩa cụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh — thương mại, lao động của mình hoặc của người khác liên quan tới quyên lợi của mình hoặc của cơ quan, tổ chức khác. Chính từ đặc trưng trên đã tạo thành thủ tục giải quyết riêng biệt đối với VDS. Thủ tục này về cơ bản đơn giản, đòi hỏi sự nhanh gọn, khác với thủ tục giải quyết VADS. Nguyên tắc áp dụng pháp luật khi giải quyết việc dân sự Hiện nay, việc giải quyết các VDS được thực hiện theo các quy định tại Phần thứ VI BLTTDS năm 2015 (từ Điều 361 đến Điều 463) và các quy định chung của Bộ luật này (từ Điều 1 đến Điều 185) nếu không trái với quy định của chương này.
So với BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung nam 2011 thì phạm vi các loại VDS được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự được mở rộng nhằm bảo đảm các yêu cầu giải quyết VDS đều được Tòa án giải quyết nếu không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác đồng thời phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 4 BLTTDS năm 2015. Đoạn 2 Điều 361 quy định rõ “phạm vi áp dụng” giải quyết các VDS thuộc thâm quyền của Tòa án. Theo đó, ngoài áp dụng các quy định của phan thứ VI, còn phải áp dụng các quy định khác để giải quyết VDS và được giới hạn nhất định. Vì vậy, không phải mọi yêu cầu dân sự nào khi Tòa án giải quyết cũng được áp dụng các quy định tại phan thứ VI BLTTDS năm 2015.
Ví dụ: - Thứ nhất, theo Điều 361 thì những yêu cầu dân sự quy định tại khoản 5 Điều 27 BLTTDS không thuộc giới hạn áp dụng thủ tục giải quyết quy định tại phần thứ VI và các quy định khác mà phải giải quyết theo thủ tục “công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài” được quy định riêng trong Phần thứ VII BLTTDS năm 2015. - Thứ hai, quy định về quyền, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự trong vụ án dân sự tại Điều 70 BLTTDS năm 2015 cũng được áp dụng cho việc giải quyết VDS. Trường hợp phần thứ VI không quy định thì áp dụng những quy định khác của BLTTDS để giải quyết VDS. Tuy nhiên, những quy định tại phần VI được ưu tiên áp dụng dé giải quyết VDS (trừ những VDS không được quy định trong Điều 361), những van đề chưa được quy định cụ thé tại phan thứ VI thì được áp dụng các quy định khác của BLTTDS năm 2015 để giải quyết.
Các quy định khác của BLTTDS năm 2015 được xác định là các quy định tại Phần những quy định chung và Phan thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thâm. Ví dụ: các vấn đề về tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết VDS, xác minh thu thập chứng cứ,. trong phần VI BLTTDS năm 2015 không quy định, khi giải quyết VDS thì áp dụng các quy định tương ứng trong Phần thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thâm. Khi áp dụng các quy định tại các điều khoản tương tự của BLTTDS, Tòa án cần viện dẫn đến Điều 361.
Vi dụ: khi ra quyết định đình chỉ giải quyết VDS phải viện dẫn căn cứ pháp lý là Điều 361 và Điều 217 BLTTDS năm 2015. Do đó, khi giải quyết VDS có thể Tòa án phải áp dụng song song đồng thời cả quy định tại phần VI và các quy định khác trong BLTTDS năm 2015. Ngoài ra, việc áp dụng pháp luật khi giải quyết việc dân sự cũng cần lưu ý các quy định của pháp luật t6 tụng dân sự từ Điều 464 đến Điều 517 BLTTDS năm 2015, đây là phần quy định bé trợ cho việc áp dụng pháp luật tố tụng dân sự khi giải quyết VDS trên thực tế. Nguyên tắc tiến hành giải quyết việc dân sự Nguyên tắc chung thủ tục giải quyết VDS được tiến hành theo những nguyên tắc cơ bản quy định từ Điều 3 đến Điều 25 BLTTDS năm 2015.
Các nguyên tắc của luật tố tụng dân sự được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Nội dung các nguyên tắc này thể hiện về năm vấn đề cơ bản của luật tố tụng dân sự như tính tuân thủ pháp luật của hoạt động tố tụng dân sự; nguyên tắc tô chức và hoạt động xét xử các VVDS của Tòa án; bảo đảm quyền tham gia tô tụng của các đương sự; trách nhiệm của cơ quan tiên hành tô tụng, người tiên hành tô tụng dân sự đôi với việc giải quyết VVDS; vai trò, trách nhiệm của cá nhân, tổ chức khác đối với việc giải quyết VVDS của Tòa án. Tuy nhiên, với đặc trưng của VDS là không có tranh chấp quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thê nên khi tiến hành giải quyết sẽ không áp dụng một số các nguyên tắc nhất định. Ví dụ: - Nguyên tắc “Hội thâm nhân dân tham gia xét xử vụ án dân sự” (Điều 11).
Ngay với tên gọi của nguyên tắc này đã chỉ rõ Hội thâm nhân dân chỉ tham gia xét xử đối với các VADS mà không tham gia giải quyết đối với các VDS. Xuất phát từ tính chất của VDS thì việc giải quyết VDS có phần đơn giản, rõ ràng hơn so với giải quyết VADS do đó pháp luật không quy định Hội thâm nhân dân tham gia giải quyết đối với các VDS. Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn xét xử của Tòa án, tránh việc tiêu tốn nguồn lực của Nhà nước trong hoạt động tố tụng. - Nguyên tắc “Toa án xét xử tập thể” (Điều 14).
Với tính chất không có sự tham gia giải quyết của hội thẩm nhân dân nên khi tiến hành giải quyết VDS chi có một thắm phán tiến hành các thủ tục tố tụng, việc này dẫn tới việc ra quyết định giải quyết VDS sẽ chỉ do một chủ thé thực hiện. Từ đó, không thé áp dụng nguyên tắc này khi tiễn hành giải quyết các VDS. Ngoài ra, theo nguyên tắc tại Điều 10 BLTTDS năm 20/5 “Téa án có trách nhiệm tiễn hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các dương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự. ` hòa giải là thủ tục bắt buộc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử của hầu hết các VADS.
Tuy nhiên, đối với VDS chỉ duy nhất việc thuận tình ly hôn phải tuân theo nguyên tắc này. Van dé này xuất phát từ tinh chất của VDS là yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý do đó phía chủ thể tham gia chỉ bao gồm người yêu cầu và người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan mà không có nguyên đơn, bị đơn (đối lập về quyên và lợi ích) tham gia. Các bên đương sự khi tham gia vào quá trình tố tụng chỉ nhăm mục đích thông qua sự kiện pháp ly này dé từ đó phát sinh các quyền và nghĩa vụ tiếp theo trong giao lưu dân sự. Duy chỉ có thuận tình ly hôn, mặc dù không có tranh chấp, các tình tiết, sự kiện đều đã được các đương sự thừa nhận và thông nhất ý chí ngay từ khi nộp đơn đến Tòa án nhưng hướng đến mục tiêu dé vợ chồng đoàn tụ thành Tòa án vẫn tiến hành hòa giải.
Đây là sự ghi nhận từ quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình vào trong pháp luật t6 tụng dân sự hiện hành.