mở đầu và khai sinh ra tất cả những môn phân hoá và phát triển đã nêu trên của nó. Hình thái học là một lĩnh vực cơ bản đầu tiên của sinh học và cũng là cơ sở cho lĩnh vực sinh lý học bên Lào. Trong y học, giải phẫu học là môn cơ sở của các môn y học cơ sở cũng như các môn y học lâm sàng. Thật vậy, không thể hiểu được cấu tạo tế bào của từng mô, từng cơ quan (mô học), không thể hiểu được sự phát triển của từng cá thể (phôi thai học), cũng như chức năng của từng cơ quan (sinh lý học).
nếu chúng ta không biết về hình thái, cấu trúc của các cơ quan đó. Đối với các môn y học lâm sàng cũng vậy, người thầy thuốc cần phải có kiến thức giải phẫu mới có thể thăm khám các phủ tạng để chẩn đoán cũng như điều trị có kết quả. Để hình tượng hóa, người ta ví ngành y giống như một cây cổ thụ thì giải phẫu là thân cây, các môn y học cơ sở khác là cành lá còn các môn y học lâm sàng là hoa quả trên cây đó. Vì vậy, nếu chúng ta không đầu tư chăm sóc tốt cho cây thì không thể mong có sản phẩm tốt được.
Mukhin, một thầy thuốc nổi tiếng của Nga đã khẳng định: “Người thầy thuốc mà không có kiến thức về giải phẫu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com học thì chẳng những vô ích mà còn có hại“. Đặc biệt với các môn học hệ ngoại- sản, kiến thức giải phẫu học lại càng cần thiết. Không thể mổ xẻ tốt trên người sống nếu không nắm vững giải phẫu từng cơ quan, từng bộ phận cũng như từng vùng. Nhà giải phẫu học nổi tiếng người Pháp: L.
Testut đã từng viết trong cuốn sách giải phẫu học đồ sộ của mình rằng: “Có thể khẳng định mà không sợ quá đáng là chỉ có trường phái giải phẫu và đặc biệt là giải phẫu định khu mới là nơi đào tạo những nhà phẫu thuật giỏi”. Theo Trịnh Văn Minh, đầu ngành về giải phẫu Việt Nam hiện nay thì cho rằng: "con người đứng vững bằng đôi bàn chân, Y học bắt đầu từ Giải phẫu học". Vì vậy, kiến thức về giải phẫu học rất quan trọng cho tất cả các thầy thuốc. Để có kiến thức đầy đủ về giải phẫu học thì trong giảng dạy và học giải phẫu cần có rất nhiều các phương tiện hỗ trợ như xác, xương rời, tiêu bản, tranh, mô hình.
để minh họa cho các cấu trúc của cơ thể người, giúp cho người học có thể xác định được hình thể cấu tạo của từng chi tiết giải phẫu một cách đầy đủ, chính xác. Học xương thì phải trực tiếp cầm lấy xương mà mô tả, đối chiếu với hình vẽ trong sách hoặc trên tranh, học các phần mềm thì phải trực tiếp phẫu tích trên xác mà quan sát và hiểu nội dung đã nêu trong bài giảng hoặc sách vở. Tuy nhiên để có xác phục vụ cho học tập, nghiên cứu thì không phải ở đâu, lúc nào cũng sẵn có. Nó phụ thuộc vào phong tục tập quán, tôn giáo, văn hóa, kinh tế, trình độ nhận thức của bản thân mỗi người, mỗi quốc gia.
Ở các nước phương tây xác là dụng cụ trực quan cho sinh viên và các thầy thuốc trong học tập và thực hành lâm sàng. Trong quá trình học tập giải phẫu, ngoài xác phẫu tích mẫu để hướng dẫn cho sinh viên xem và nhận biết các chi tiết của cơ thể thì cứ khoảng 5-10 sinh viên được thực hành trên một xác và họ được trực tiếp phẫu tích các thành phần để xác nhận lại kiến thức của mình và giúp cho quá trình học tập các môn học khác cũng như thực hành lâm sàng trong chẩn đoán cũng như điều trị có hiệu quả cao. Ở Lào hiện nay, việc có xác để học tập và nghiên cứu là rất khó khăn, hầu hết Trường Đại học Y tế và Sức Khỏe thủ đô Viêng Chăn, Lào đều rất hiếm xác, nếu có thì cũng chỉ để sinh viên quan sát dưới sự hướng dẫn của giảng viên chứ không được trực tiếp sờ mó hoặc phẫu tích trên xác. Việc quan sát của sinh viên cũng rất hạn chế, mỗi buổi học trên xác khoảng từ 15-20 sinh viên cùng đứng để nghe và nhìn thầy hướng dẫn nên rất khó khăn để nhận thức đầy đủ nội dung bài học.
Ngoài ra mỗi một khóa học hàng năm có khoảng 500-600 sinh viên với chỉ có một xác để học quay vòng, nên qua rất nhiều nhóm sinh viên như vậy thì các chi tiết không còn nguyên vẹn và sai lệch đi là đương nhiên nên việc nhận biết lại càng khó khăn hơn. Tại Trường Đại học Y tế và Sức Khỏe thủ đô Viêng Chăn, Lào mặc dù cũng có xác cho sinh viên học nhưng mỗi một xác được tận dụng để sử dụng trong vòng từ 2 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến 3 năm vì vậy khó có thể đáp ứng được chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, ngoài xác ra, Bộ môn cũng có các phương tiện hỗ trợ khác như: các xương rời, tranh, mô hình, tiêu bản phẫu tích sẵn tuy nhiên số lượng còn hạn chế. Mỗi một loại tranh, mô hình tiêu bản chỉ có khoảng 5-7 bộ trong khi mỗi nhóm sinh viên học thực hành khoảng 40 em nên chỉ có thể đáp ứng được ở mức tối thiểu nhất theo nhu cầu của người học.
Chính vì vậy, cần phải có một giải pháp để có thể phục vụ tốt hơn cho việc giảng dạy và học tập của nhà trường, đó là xây dựng thêm các hình ảnh trực quan trên cơ sở dựa vào các phần mềm ứng dụng của công nghệ thông tin. Ứng dụng thực tại ảo vào giải phẫu trong y học * Trên thế giới Ngày nay, công nghệ hình ảnh 3D đang thu hút sự chú ý của nhiều người, nhiều lĩnh vực và lĩnh vực y học cũng không phải là một ngoại lệ. Y học là một trong những lĩnh vực ứng dụng tiềm năng trong công nghệ thực tại ảo và là một trong số ít lĩnh vực ứng dụng thuộc ngành khoa học của thực tại ảo… Cho đến nay, lĩnh vực nổi bật trong y học áp dụng thành công công nghệ thực tại ảo là giả lập giải phẫu (Surgical Simulation).Trên cơ sở các kỹ thuật đồ họa máy tính và thực tại ảo, hệ thống đào tạo y học này bao gồm hai bộ phận cơ bản: - Khối tương tác ba chiều là mô hình sinh thể ảo cho phép người sử dụng thực hiện các thao tác phẫu thuật thông qua các dụng cụ giải phẫu ảo; - Khối giao diện người dùng hai chiều cung cấp những thông tin phản hồi trực quan từ mô hình trong quá trình phẫu thuật cũng như những thông tin hướng dẫn trong phiên đào tạo. Phương pháp đào tạo có tính tương tác cao này mang nhiều ưu điểm so với các phương pháp truyền thống như thực hành trên mô hình plastic hay trên bệnh nhân thực.
- Thứ nhất, khác với phương pháp dùng mô hình plastic, sinh thể giải phẫu ảo có khả năng cung cấp những thông tin phản hồi cho người học một cách tự nhiên như một sinh thể sống thực, dưới tác động của bác sỹ phẫu thuật, chẳng hạn như sự thay đổi về nhịp tim, huyết áp v. Điều này tạo ra cho người học có cảm giác như đang trải qua một ca mổ trong một tình huống thực. - Thứ hai, khác với thực hành trên bệnh nhân thật, rõ ràng một sai lầm của học viên trong quá trình thực tập không phải trả giá bằng những thương tổn thực trên cơ thể người bệnh. Điều này rất quan trọng, nó làm giảm áp lực tâm lý lên học viên khi thực hiện phẫu thuật ảo.
Từ đó, giúp họ tự tin và chủ động hơn trong học tập. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phẫu thuật ảo – Phương pháp đào tạo phẫu thuật mới dùng công nghệ Thực tại ảo Phương pháp này không chỉ cho phép các học viên y khoa thực hành các ca phẫu thuật trong tình huống thực, đem lại cho họ những kinh nghiệm cần thiết trước khi thực hiện phẫu thuật trên cơ thể con người, đây còn là cơ hội để các bác sỹ phẫu thuật nâng cao kỹ thuật giải phẫu và kỹ năng phối hợp làm việc theo nhóm trong phòng mổ. Điều này đặc biệt quan trọng trong các tình huống khi phẫu thuật các trường hợp phức tạp và nhạy cảm.
Các kỹ thuật thực tại ảo cũng được sử dụng để hỗ trợ các bác sỹ phẫu thuật trong giai đoạn lập kế hoạch tiền phẫu thuật. Trước khi thực hiện quy trình phẫu thuật trên bệnh nhân thực, người bác sỹ có thể thử nghiệm các phương pháp tiến hành phẫu thuật khác nhau trên mô hình ảo của người bệnh mô hình này mô phỏng được đầy đủ các đặc điểm bệnh lý của người bệnh thật. Theo cách này, người bác sỹ sẽ lựa chọn ra được cách thức phẫu thuật an toàn nhất, hiệu quả nhất và tốn ít thời gian nhất trong phòng mổ, hạn chế những tai biến trong quá trình phẫu thuật. Trên thế giới, nhiều bác sĩ cũng đang cố gắng tận dụng công nghệ mới này để điều trị bệnh nhân.
Ví dụ như vào một cuộc phẫu thuật nội soi có gắn camera 3D. Camera sẽ truyền về những hình ảnh 3D chân thật, rõ nét để các phẫu thuật viên có thể điều khiển các dụng cụ phẫu thuật chạm vào các cơ quan bên trong khoang bụng một cách chính xác. Công nghệ này đảm bảo độ an toàn hơn trong quá trình phẫu thuật. Thêm nữa, công nghệ 3D có thể giúp ta chuyển các hình ảnh từ tia X bình thường hay các hình ảnh 2 chiều của chụp cắt lớp điện toán (CT)… sang thành các hình ảnh 3 chiều.
Với các phương pháp chụp cắt lớp điện toán (CT) hay chụp cộng hưởng từ (MRI), các bác sĩ vừa nhìn hình ảnh vừa tiến hành phẫu thuật bằng cách đưa một cái kim hoặc một ống nhỏ gắn camera vào cơ thể bệnh nhân. Phạm vi sai số ở đây phải ít hơn 0,5mm vì nếu không như vậy các mạch máu có thể sẽ bị vỡ hoặc thậm chí bị rách toạc ra. Các bác sĩ vừa phải theo dõi hình ảnh 2D trên màn hình, vừa phải tưởng tượng hình ảnh đó Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sẽ như thế nào trong không gian 3 chiều, điều đó đã gây không ít khó khăn cho họ khi tiến hành các thao tác phẫu thuật.