Chương 1 của luận án trình bày về một số khái niệm cơ bản trong giấu tin, tính chất và ứng dụng của giấu tin. Trong chương này cũng trình bày về cách biểu diễn, lưu trữ âm thanh số trên máy tính, đặc điểm và những hạn chế của hệ thống thính giác của con người, là cơ sở có thể giấu tin vào trong âm thanh. Chương 2 của luận án trình bày các phương pháp giấu tin cơ sở dùng để giấu tin trong âm thanh cùng một số nhận xét được tác giả tổng hợp từ các tài liệu tham khảo. Trong chương 2 cũng trình bày các kỹ thuật bổ trợ thường được dùng trong giấu tin, một số độ đo dùng để đánh giá các kỹ thuật giấu tin.
Các kỹ thuật bổ trợ và các độ đo được trình bày trong chương 2 được sử dụng trong các chương tiếp theo của luận án. Chương 3 trình bày về các phương pháp giấu tin trên miền thời gian. Nội dung chương này được tổng hợp từ năm bài báo. Các phương pháp giấu tin trong chương này được thực hiện bằng cách điều chỉnh một mẫu hoặc nhóm các mẫu biểu diễn dữ liệu âm thanh.
Đây là các phương pháp thích hợp cho ứng dụng giấu tin mật. Chương 4 trình bày hai phương pháp giấu trên miền tần số, được tổng hợp từ hai bài báo. So với các phương pháp giấu tin ở chương 3, hai phương pháp ở chương 4 có tỉ lệ dữ liệu thấp hơn nhưng có thể chịu được một số tấn công cơ bản. Phương pháp thứ nhất thực hiện trên miền tần số thực hiện phép biến đổi Fourier, cho phép giấu 8 bit dữ liệu trong đoạn 512 mẫu.
Phương pháp thứ hai thực hiện giấu dữ liệu trên miền tần số sử dụng phép biến đổi wavelet, dựa vào giá trị trung bình của đoạn. Hai phương này có thể được dùng để giấu tin mật, được dùng trong trường hợp dữ liệu mang tin có thể phải chịu tấn công nhiễu. Phần kết luận của luận án trình bày những kết quả đạt được, những hạn chế của luận án và hướng phát triển tiếp theo. GIẤU THÔNG TIN VÀ GIẤU TIN TRONG ÂM THANH Chương này của luận án trình bày những nội dung chung về giấu thông tin và giấu tin trong âm thanh.
Bên cạnh trình bày các yêu cầu và ứng dụng của giấu tin, chương này cũng trình bày cách biểu diễn âm thanh số, các đặc trưng cơ bản của âm thanh số, tính chất của hệ thống thính giác của con người, là cơ sở để có thể thực hiện được giấu tin trong âm thanh. Giấu thông tin 1. Lịch sử giấu thông tin Từ giấu thông tin (steganography) bắt nguồn từ Hi Lạp và được sử dụng cho tới ngày nay, có nghĩa là tài liệu được phủ (covered writing) [58]. Một câu chuyện về thời Hy-Lạp cổ đại do Herodotus ghi lại kể về giấu thông tin.
Demeratus, một người Hy-Lạp, cần thông báo cho Sparta rằng Xerxes định xâm chiếm Hy-Lạp. Để tránh bị phát hiện, Demeratus đã bóc lớp sáp ra khỏi các viên thuốc và khắc thông báo lên bề mặt các viên thuốc này, sau đó bọc lại các viên thuốc bằng một lớp sáp mới. Bằng cách này, những viên thuốc được để ngỏ và lọt qua mọi sự kiểm tra một cách dễ dàng. Người Romans cổ đã dùng mực không màu để viết các thông báo bí mật giữa những hàng văn tự thông thường.
Khi bị hơ nóng, những dòng chữ được viết từ loại mực này sẽ trở nên sẫm màu và có thể đọc được. Công nghệ thông tin đã tạo ra những môi trường giấu tin mới vô cùng tiện lợi và phong phú. Ta có thể giấu tin trong văn bản, ảnh, âm thanh, video, các tệp cơ sở dữ liệu hoặc thậm chí trong các gói tin được truyền trên đường truyền mạng. Ý tưởng về che giấu thông tin đã có từ rất lâu nhưng kỹ thuật này được dùng chủ yếu trong quân đội và trong các cơ quan tình báo.
Ngày nay giấu tin không chỉ dùng cho mục đích an ninh, quân sự mà còn để phục vụ các mục đích tích cực như bảo vệ bản quyền các tài liệu số, kiểm soát sao chép. Các thành phần của hệ giấu tin Một hệ giấu tin gồm có các thành phần chính sau đây: 7 + Thông điệp mật (secret message): có thể là văn bản, hình ảnh, âm thanh. Trong quá trình giấu tin, chúng được chuyển thành chuỗi các bit. + Dữ liệu chủ hay môi trường sẽ chứa tin mật (host signal): dữ liệu có thể chọn làm dữ liệu chủ là tệp ảnh, tệp âm thanh, tệp video hay tệp cơ sở dữ liệu, văn bản.
+ Khoá K: là khóa tham gia vào quá trình giấu tin để tăng tính bảo mật. + Dữ liệu mang tin hay môi trường đã chứa tin mật (stego signal). Sơ đồ của một hệ giấu tin như sau : Khoá Khoá Dữ liệu chủ Quá trình Dữ liệu Môi trường Quá trình Dữ liệu chủ Giấu tin mang tin mạng Giải tin Thông điệp mật Thông điệp mật Hình 1. Sơ đồ của hệ giấu tin 1.
Các yêu cầu của hệ giấu tin Có nhiều phương pháp giấu tin cho những kiểu dữ liệu khác nhau. Để đánh giá chất lượng của một phương pháp giấu tin, người ta dựa vào một số tiêu chí sau: 1. Tính “vô hình” Khi giấu tin vào trong các dữ liệu chủ sẽ làm thay đổi ít nhiều dữ liệu chủ. Nếu phương pháp giấu tin tốt, sẽ làm cho thông tin mật trở nên “vô hình” trên dữ liệu mang tin và người ta “khó có thể” nhận ra trong dữ liệu mang tin có chứa tin mật hay không.
Đối với phương pháp giấu tin trong ảnh, tính vô hình thể hiện ở việc không nhìn thấy, không phân biệt được sự khác nhau giữa ảnh gốc và ảnh chứa tin giấu. Đối với phương pháp giấu tin trong âm thanh, tính vô hình thể hiện ở chỗ không phân biệt được sự khác nhau khi nghe tệp âm thanh gốc và tệp âm thanh chứa tin. Khả năng chống giả mạo Mục đích của “giấu tin” là để truyền đi thông tin mật. Nếu không thể do thám tin mật, thì người thám tin cũng cố tìm cách làm sai lạc tin mật, làm giả mạo tin mật 8 để gây bất lợi cho đối phương.
Một phương pháp giấu tin tốt sẽ đảm bảo tin mật không bị tấn công một cách có chủ đích trên cơ sở những hiểu biết đầy đủ về thuật toán giấu tin (nhưng không biết khoá) và có tệp mang tin. Đối với lĩnh vực thủy vân số thì khả năng chống giả mạo là đặc tính vô cùng quan trọng, vì có như vậy mới bảo vệ được bản quyền, chứng minh tính pháp lý của sản phẩm (người khác không thể hay rất khó có thể thay đổi thông tin bản quyền trên sản phẩm). Tính bền vững Sau khi tin được giấu vào đối tượng chứa, các tệp mang tin được truyền qua các kênh công cộng và có thể phải qua hay chịu các biến đổi khác nhau, chẳng hạn như phép lọc, thêm nhiễu, cắt bớt dữ liệu hay lấy mẫu lại. Tính bền vững thể hiện ở sự nguyên vẹn, không thay đổi (hay thay đổi không đáng kể) của thông tin được giấu sau những biến đổi như vậy.
Dung lượng tin giấu Dung lượng tin giấu được tính bằng tỷ lệ của lượng tin cần giấu so với kích thước đối tượng gốc. Các phương pháp giấu tin mật đều cố gắng giấu được càng nhiều tin trong dữ liệu gốc càng tốt nhưng vẫn giữ được bí mật. Độ phức tạp tính toán “Độ phức tạp” của thuật toán giấu và giải tin cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá một phương pháp giấu tin. Chỉ tiêu này cho chúng ta biết “tài nguyên” (thời gian và bộ nhớ) tốn bao nhiêu dùng cho một phương pháp giấu tin.
Với người có quyền trong hệ thống giấu tin thì thời gian thực hiện phải “nhanh”, nhưng với người thám tin thì việc giải tin phải là bài toán “khó”. Ba thuộc tính quan trọng mà một hệ giấu tin nào cũng mong muốn đạt cao nhất, đó là chất lượng, số lượng và tính bền vững. Thuộc tính chất lượng yêu cầu sự sai khác giữa dữ liệu gốc và dữ liệu mang tin càng ít càng tốt. Thuộc tính số lượng yêu cầu giấu càng nhiều tin càng tốt.
Thuộc tính bền vững yêu cầu khó thay đổi hay xóa tin giấu trong dữ liệu mang tin. Tuy nhiên ba đặc tính này lại ảnh hưởng lẫn nhau, khi đề cao một đặc tính này thì sẽ ảnh hưởng đến các đặc tính còn lại. Ví dụ, khi ta muốn giấu nhiều tin hơn vào trong một ảnh thì ta phải thay đổi nhiều điểm ảnh hơn 9 để giấu tin, dẫn đến chất lượng của ảnh chứa tin sẽ giảm hơn so với ảnh gốc. Các ứng dụng thủy vân quan tâm nhiều đến thuộc tính bền vững trong khi ứng dụng giấu tin mật quan tâm nhiều đến thuộc tính dung lượng.
Mối quan hệ giữa ba thuộc tính thể hiện như hình 1. Khi ta tăng dung lượng (số lượng bit) giấu thì ảnh hưởng đến chất lượng tệp mang tin, hay khi tăng tính bền vững của tin giấu thì phải giảm dung lượng giấu cũng như giảm chất lượng tệp mang tin. Chất lượng (quality) Bền vững (robustness) Dung lượng (capacity) Hình 1. Mối quan hệ giữa ba yếu tố chất lượng – dung lượng – bền vững 1.
Phân loại giấu tin Giấu tin có thể phân loại theo đặc trưng, tính chất và ứng dụng. Ta có thể phân loại các kỹ thuật giấu tin theo kiểu tài liệu dùng làm dữ liệu chứa (văn bản, ảnh, âm thanh, video.), theo miền xử lý (miền dữ liệu trực tiếp hay miền biến đổi), hay theo mục đích giấu tin. Infomation hiding Giấu thông tin Steganography Watermarking Giấu tin mật Thuỷ vân số Robust Copyright marking Fragile Watermarking Thuỷ vân bền vững Thuỷ vân “dễ vỡ” Imperceptible Watermarking Visible Watermarking Thuỷ vân không nhìn thấy được Thuỷ vân có thể nhìn thấy được Hình 1. Phân loại giấu tin dựa vào mục đích ứng dụng 10 Nếu phân theo mục đích giấu tin thì ta có giấu tin mật và thủy vân số.
Giấu tin mật (steganography) là kỹ thuật nhúng “mẩu tin mật” vào “môi trường giấu tin” (môi trường phủ). Trong quá trình giấu tin ta có thể dùng khoá (stego-key) để tăng tính bảo mật. Trong giấu tin mật, khoá không phải dùng để mã hóa mẩu tin mà thường được dùng để xác định vị trí “rải tin mật” vào môi trường giấu tin. Mục đích của giấu tin mật là bảo vệ thông tin được giấu.
Thuỷ vân số là kỹ thuật nhúng “dấu ấn số” vào một “tài liệu số” nhằm chứng thực (đánh dấu, xác thực) nguồn gốc hay chủ sở hữu của “tài liệu số” này. Như vậy mục đích của thuỷ vân số là bảo vệ môi trường giấu tin, bằng cách biến tin giấu thành một thuộc tính của vật mang tin [33].