Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Nghiên cứu về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học 1. Nghiên cứu ngoài nước Đầu thập kỷ 90, các tổ chức Liên hiệp quốc như WHO, UNICEF, UNESCO đã chung tay để xây dựng chương trình giáo dục kĩ năng sống cho thanh thiếu niên: “Bởi lẽ những thử thách mà trẻ em và thanh niên phải đối mặt là rất nhiều và đòi hỏi cao hơn là kĩ năng đọc, viết, tính toán tốt nhất”.
(UNICEF) Theo Ma Thị Minh Trang (2018), hiện nay đã có hơn 155 nước trên thế giới quan tâm đến việc giáo dục kĩ năng sống bằng cách đưa kĩ năng sống vào các nhà trường, trong đó có 143 nước đã đưa vào chương trình chính khoá ở Tiểu học và Trung học. Việc giáo dục kĩ năng sống cho HS ở các nước được thực hiện theo ba hình thức: + Kĩ năng sống là một môn học riêng biệt. + Kĩ năng sống được tích hợp vào một vài môn học chính. + Kĩ năng sống được tích hợp vào nhiều hoặc tất cả các môn học trong chương trình.
Tuy nhiên, chỉ có một số không đáng kể các nước đưa kĩ năng sống thành một môn học riêng biệt, ví dụ như: Ma-la-wi, Cam-pu-chia,. Còn đa số các nước, để tránh sự quá tải trong nhà trường, thường tích hợp kĩ năng sống vào một phần nội dung môn học, chủ yếu là các môn khoa học xã hội như: giáo dục sức khoẻ, giáo dục giới tính, quyền con người, giáo dục môi trường. Một số nước đã sử dụng tiếp cận "Whole School Approach" trong đó có hình thức xây dựng "Trường học thân thiện" nhằm thúc đẩy việc giáo dục kĩ năng sống cho HS trong nhà trường. Ở Thái Lan (1996), chương trình GDKNS được thực hiện ở cả ba bậc học phổ thông, chủ yếu thông qua các hoạt động ngoại khóa.
Tại đây, họ quan niệm KNS là những thuộc tính hay năng lực tâm lý xã hội giúp cá nhân đương đầu với nhiều tình huống trong cuộc sống và đáp ứng được với hoàn cảnh tương lai để hạnh phúc. Do đó, hiện nay Thái Lan vẫn 8 duy trì và mở rộng phát triển GDKNS trên nhiều lĩnh vực khác nhau và coi đó như là nội dung bắt buộc phải đưa vào giảng dạy trong chương trình của nhà trường ở tất cả các cấp học. Ở Philippin (2001), KNS được tích hợp giảng dạy vào trong chương trình giáo dục cơ bản. Theo đó, Philippin còn triển khai GDKNS trong quân sự nhằm lồng ghép đưa 11 KNS cốt lõi vào chương trình giảng dạy (tự nhận thức, giải quyết vấn đề, ra quyết định, tư duy phản biện, tư duy sáng tạo, đối phó với căng thẳng, đối phó với cảm xúc, đồng cảm, giao tiếp hiệu quả, kỹ năng quan hệ tích cực, kỹ năng sản xuất kinh doanh).
Những nghiên cứu về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học tại Bỉ đã khẳng định một trong những sứ mạng của trường Tiểu học là giúp cho trẻ tự lập, và tạo điều kiện, tạo môi trường để trẻ phát triển kỹ năng sống. Theo đó, cần cho trẻ học kỹ năng sống và kỹ năng tự lập sẽ hình thành cho trẻ nhân cách tốt. Giáo dục các giá trị sống để có kĩ năng sống ngày càng được nhìn nhận là có sức mạnh vượt lên khỏi lời răn dạy đạo đức chi tiết đến mức hạn chế trong cách nhìn hoặc những vấn đề thuộc về tư cách công dân. Nó đang xem là trung tâm của tất cả thành quả mà giáo viên và nhà trường tâm huyết có thể hy vọng đạt được thông qua việc dạy về giá trị, kĩ năng sống.
Về phương pháp giáo dục các kĩ năng sống, nghiên cứu của Quest International (1990) dựa trên nghiên cứu về chiến lược dạy và học từ nhiều kết quả nghiên cứu khác đã đề xuất “phương pháp luận học tập kỹ năng sống” gồm 4 phần dựa trên cơ sở 6 giả thiết mà các nhà nghiên cứu đã quyết định hình thành nên cơ sở của việc học. Những giả thiết là: 1/ Học tập hướng tới mục đích; 2/ Học tập là kết nối thông tin mới với kiến thức trước đó; 3/ Học tập là có chiến lược; 4/ Học tập diễn ra theo các giai đoạn; 5/ Học tập là đệ quy; và 5/ Học tập bị ảnh hưởng bởi sự phát triển. Theo quan điểm của Tổ Chức Y tế Thế giới (WHO: 1993), các kỹ năng sống cho học sinh được hình thành tốt nhất thông qua phương pháp học tập tích cực. Trong các phương pháp giáo dục lấy người học làm trung tâm, việc hình thành các kỹ năng sống phụ thuộc vào quá trình học tập được tổ chức cùng với người khác thông qua hoạt động nhóm như quan sát, luyện tập hoạt động cặp, động não, sắm vai, tranh luận hoặc thảo luận.
Như vậy, qua tổng kết kinh nghiệm các nghiên cứu về nội dung giáo dục kĩ năng sống cho thấy: Nội dung giáo dục kĩ năng sống được triển khai ở các nước vừa thể hiện 9 cái chung vừa thể hiện những nét riêng của từng quốc gia. Ngay trong một quốc gia, nội dung giáo dục kĩ năng sống trong lĩnh vực giáo dục chính quy và không chính quy cũng có sự khác nhau. Thể hiện rõ quan điểm chỉ đạo trong giáo dục không chính quy ở một số nước, những kĩ năng cơ bản như đọc, viết, nghe, nói được coi là những kĩ năng sống cơ sở trong khi trong giáo dục chính quy, các kĩ năng sống cơ bản lại được xác định phong phú hơn theo các lĩnh vực quan hệ của cá nhân. Nghiên cứu trong nước Các công trình nghiên cứu về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống của các tác giả như: Nguyễn Thị Huệ (2012); Phạm Minh Hạc (2012); Nguyễn Thị Thu Hằng (2011); Nguyễn Thanh Bình (2009) cũng nhất quán về mục tiêu của giáo dục kĩ năng sống là: “Nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hàng ngày, đồng thời tạo ra sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống”.
Hiện nay Bộ giáo dục và Đào tạo đã nghiên cứu để đưa giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong chương trình giáo dục thể hiện thông qua hoạt động trải nghiệm trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Ở chương trình này mục tiêu giáo dục, nội dung chương trình và các giai đoạn giáo dục trải nghiệm để hình thành và phát triển kĩ năng sống cho học sinh. Lục Thị Nga - Vũ Thúy Hạnh (2010), Phạm Thị Nga (2014): Trong Chương trình “giáo dục những giá trị sống”, 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ đã được đề cập. Những nghiên cứu về kĩ năng sống trong thời điểm đó đã cố gắng thống nhất quan niệm chung về kĩ năng sống, cũng như đưa ra được một bảng danh mục các kĩ năng sống cơ bản mà thế hệ trẻ cần có.
Tuy nhiên, đa số các công trình nghiên cứu về kĩ năng sống ở giai đoạn này đều tiếp cận quan niệm về kĩ năng sống theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kĩ năng xã hội. Dự án do UNESCO tiến hành tại một số nước trong đó có các nước Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu về kĩ năng sống nêu trên. Tiếp theo, trước yêu cầu toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế nên hệ thống giáo dục của các nước đã và đang thay đổi theo định hướng khơi dậy và phát huy tối đa các tiềm năng của người học; đào tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu như: năng lực thích ứng, năng lực tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã 10 hội… để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội. Theo nghiên cứu công bố trên Tạp chí giáo dục của Nguyễn Thanh Bình (2008), (2011) đã bước đầu cho thấy tầm quan trọng về nghiên cứu kĩ năng sống và giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam.
Nghiên cứu của tác giả cũng đã chỉ rõ chương trình, tài liệu giáo dục kĩ năng sống được thiết kế cho giáo dục không chính quy là phổ biến và rất đa dạng về hình thức. Cụ thể của nghiên cứu này là: + Lồng ghép vào chương trình dạy chữ, học vấn vào tất cả các môn học và các chương trình ở các mức độ khác nhau. Ví dụ: có nước lồng ghép dạy kỹ năng sống vào các chương trình dạy chữ cơ bản nhằm xoá mù chữ. Bên cạnh dạy chữ có kết hợp dạy kỹ năng làm nông nghiệp, kỹ năng bảo tồn môi trường, sức khỏe, HIV/AIDS; + Dạy các chuyên đề cần thiết cho người học.
Ví dụ: tạo thu nhập; môi trường, kỹ năng nghề; kỹ năng kinh doanh. Trong cuốn “Giáo trình Giáo dục kỹ năng sống” Nguyễn Thanh Bình (2008) khẳng định những yêu cầu cụ thể đối với việc đổi mới nội dung chương trình và phương pháp dạy học. Tác giả cho rằng: “Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học là hướng vào học tập chủ động, chống thói quen thụ động, đồng thời coi dạy học thông qua tổ chức hoạt động của học sinh là đặc trưng thứ nhất của phương pháp dạy học tích cực”. Bộ sách Giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh tiểu học - Tài liệu dành cho giáo viên, đã phân tích tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong các trường phổ thông, tài liệu đã chỉ ra: “kĩ năng sống là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh, kĩ năng sống thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội” và cho rằng “giáo dục kĩ năng sống là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ, giáo dục kĩ năng sống nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông và cách tiếp cận phương pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh”.
Ngô Thị Tuyên (2010) trong cuốn “Cẩm nang giáo dục cho học sinh tiểu học” đã chỉ ra rằng kỹ năng sống là sản phẩm bắt buộc phải có của giáo dục nhà trường. Tác giả đưa ra khái niệm về kỹ năng sống, các loại kỹ năng sống, vị trí vai trò của kỹ năng sống trong giáo dục nhà trường, phương pháp giáo dục kỹ năng sống và trình bày phương pháp xây dựng một chương trình học tập, nguyên tắc chọn nội dung và và hướng dẫn giáo viên phương pháp giáo dục cho trẻ bằng việc làm để có được sản phẩm là kỹ năng sống.