TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI. KHOA HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC -_ HỘI THẢO KHOA HỌC. KỸNĂNGSOẠNTHẢO _ MOT SO VAN BAN HANH CHÍNH THONG DỤNG: - % , L tt > 7. » : — ITRUNG TAM THONG TIN THU VIỆN) r hãy The ds j có ng Oo RS| Khu» HO.
Wi TRƯỜNG ĐẠTHỌC LUẬT HÀ NỘI! | PHÒNG BOC — HA NOI, THANG 6 NAM 2006 MỤC LỤC Bàn về khái niệm kỹƒnăng - Th.Hoàng Văn Sao - TH Khoa Hành chính Nhà nước Một số vấn đề lý luận về văn ban hành ‘Ts. Lê Vương Long anh thông dụng ở nước ta -_ Khoa Hanh chính Nhà nước Khái niệm văn bản hành chính thông dụng GV. Nguyễn Chi Mai và vai trò của nó trong quản ly Nha nước — Khoa Hành chính Nhà nước và kỹ năng lập biên bản Bàn về biên bản Ths. Trần Thị Hiền trong hoạt động ban hành văn bản áp dung Khoa Hành chính Nhà nước pháp luật hành chính Kỹ năng soạn thảo công văn Ths.
Hoàng Minh Hà Khoa Hành chính Nhà nước Báo cáo và vén đề soạn thảo bdo cáo Ths. Bai Thị Đào Khoa Hành chính Nhà nước Mối quan hệ giữa văn bản có giá trị pháp Ths. Nguyễn Thi Thủy | lý khác với quyết định hành chính áp dụng Khoa Hành chính Nhà nước qui phạm pháp ludt Kỹ năng soạn thảo tờ trình, thông báo, _ Ths. Đoàn Thị Tố Uyên công điện | Khoa Hành chính Nhà nước Một số giải pháp nâng cao kỹ năng soạn Ths.
Trần Thị Vượng thao báo cáo hành chính — - Khoa Hành chính Nhà nước HỘI THẢO KHOA HỌC “KY NĂNG SOẠN THẢO MỘT SỐ VAN BAN HANH CHÍNH THONG DỤNG” BAN VỀ KHÁI NHỆM Ki NĂNG Ths. Hoang Van Sao | Khoa Hành chính - Nhà nước Trường Đại học Luật Hà Nội _ Bàn về ki năng, Từ điển Tiếng Việt có ghi: "Kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế"'. Ở đây khái niệm này nhấn mạnh hai yếu tố cấu thành là "học" và "hành". Hai yếu tố nay có quan hệ chặt chế, bổ sung va làm tiền dé cho nhau.
Học không đến nơi đến chốn thì hành chắc chan sẽ rất khó, thậm chí sẽ không hành được. Học dé nắm được bản chất của vấn đề, nim được tính hệ thống của sự vật và cả tính tương tác của nó trong tự nhiên và xã hội. Phải học từ cái nhỏ đến cái lớn, từ hiện tượng đến bản chất thì hành mới thuận. Nếu học / mà chưa hiểu hay không hiểu cặn kẽ vấn đề thì không được coi là có học.
Trong trường hợp này, thuật ngữ "nghiên cứu” là thuật ngữ đầy đủ yêu cầu đối với những người muốn hành trong thực tiễn, nhưng để nghiên cứu được thì phải học, không chi học thay, học ban, học trong trường, ngoài xã hội ma còn phải học trong thực tiễn nữa. Thông qua việc "hành" cũng có nghĩa là chúng ta tiếp tục học trong thực tiễn. "Hành" là khâu tiếp theo trong quá trình chúng ta tự kiểm tra những kiến thức mà trước đó chúng ta đã thu lượm được. Từ những kiến thức đó, bằng những hành động cụ thể của cá nhân hay của nhiều cá nhân tác động đến thực tiễn để giải quyết một hay nhiều vấn đề mà thực tiễn đặt ra hoặc đòi hỏi.
Như vậy học tốt thì hành sẽ thuận lợi. Mà hành tốt sẽ tiếp tục củng cố kiến thức của bản thân, trau dồi tri thức đểtiếp tục tim hiểu những yêu cầu cao hơn trong cuộc sống. "¬ Cứ như vậy hành trình "hoc và hành " luôn luôn đồi hỏi sức lực và trí ' Viện Ngôn ngữ học: Tờ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng 2002, trang 502. j 1 l PINE SEMI 2MZ6C//4/2/ (217 (1/11 7 2 //2L(Y (¿1À (LẠC OU V/V 10V (21V 2 Cí | Vi LEONG DUNG” tuệ của mỗi con người, tổ chức và cơ quan để chúng ta hình thành kĩ năng giải quyết vấn đề của xã hội, của công việc mà chúng ta phải đảm nhiệm.
' Kí năng là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành nội dung của nên hành chính điều hành (kĩ năng hành chính, phương pháp hành chính và công nghệ hành chính). Các nhà quản lí muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình phải vận dụng tốt cả 3 yếu tố nói trên. Xem nhẹ yếu tố nào sẽ không mang lại hiệu quả trong quản lí. Chính vì vậy, hiệu quả quản lí phụ thuộc rất lớn vào sự hiểu biết và khả năng vận dụng cả 3 yếu tố nói trên trong thực tiễn quản lí hành chính Nhà nước hiện nay.
Bay lâu nay khi nói về cải cách hành chính, chúng ta thường nhắc tới một yêu cầu rất quan trọng, đó là phải xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tu" và năng lực điều hành. Đó là những yêu cầu rất đúng, song năng lực điều hành của cán bộ, công chức lại phụ thuộc vào vấn dé "học và hành" của họ. Sở di hiệu quả quản lí của chúng ta còn thấp vì ki năng hành chính của đội ngũ cán bộ, công chức còn yếu. Khuyết điểm này có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, chẳng hạn từ nhận thức, từ khả năng vận dụng trong thực tế, hoặc từ cơ chế vốn đã xơ cứng từ bao năm nay.
Tuy nhiên, có một điều hiển nhiên là khái niệm "ki năng" dưới góc độ pháp lí chưa được ghi nhận một cách thống nhất. Mỗi nhà quản lí, mỗi nhà khoa học đều khái quát khái niệm kĩ năng dưới góc độ riêng của mình. Có quan điểm cho rang "ki năng là cách thức để tiến hành hay thực hiện một công việc nào đó trong cuộc sống hàng ngày hay trong chuyên mén., vi dụ như ki năng giao tiếp, ki năng nhập vai, ki năng hùng biện, ki năng xây dựng bài giảng theo kiểu mô hình hoá. Quan điểm khác lại cho rằng "kindng la sự hiểu biết", nhấn mạnh người nào hiểu biết thì người ấy mới có kĩ năng vận dụng tốt kiến thức lí luận vào thực tiễn.
Sự hiểu biết ở đây được đánh giá theo cả phương điện lí luận và phương điện thực tiễn. Với quan điểm này, sự đồng thuận và tương tác giữa 2 HOI THẢO KHOA HỌC “KỸ NANG SOẠN THẢO MỘT SO VAN BAN HANH CHÍNH THONG DUNG” sự hiểu biết và khả năng vận dung (Kĩ năng) là rất hiển nhiên. Ở đây tác giả thừa nhận nhiều về tính tích cực của nó. Thế nhưng, trong thực tiễn nhiều khi phải thông qua "sự vận đụng" nhiều lần và ở nhiều công việc, nhiều lĩnh vực khác nhau đối với kiến thức đã học ở khắp nơi thì sự hiểu biết về cuộc sống, về con người, về xã hội và về công việc của người ấy mới tăng dân.
Thông qua quá trình nêu trên, chúng ta gặp cả thành công và thất bại. Cả 2 yếu tố này đều đem lại cho chúng ta sự hiểu biết và kinh nghiệm. Tất nhiên, sự hiểu biết ở mỗi người chúng ta là không giống nhau vì nhận thức ở mỗi người, của mỗi người là khác nhau. _ Quan điểm thứ ba lại cho rằng kĩ năng chính là những thủ thuật, những tài lẻ hay những mẹo, ví dụ chữa bệnh bằng mẹo (thủ thuật gia truyền).
Quan điểm này nhấn mạnh kĩ năng là khả năng và kết quả tích luỹ kinh nghiệm trong cuộc sống. Quan điểm này chưa đủ sức thuyết phục vì trên thực tế nhiều người giàu kinh nghiệm thực tiễn mà khi thực hành nhiệm vụ quản lí (sau khi được đề bạt, bổ nhiệm) vẫn không hiệu quả hoặc hiệu quả rất thấp. Ở đây, người ấy chỉ có wu điểm là giàu kinh nghiệm nhưng lại thiếu năng lực thực hành hoặc thiếu cái nhìn tổng thể nên chỉ làm tốt công việc sự vụ mà không có khả năng khái quát hoá vấn dé. Chẳng hạn, có người có khả năng nắm bắt ý kiến của người khác rất nhanh nhạy nhưng khi tổng kết hoặc kết luận vấn đề lại không ngắn gọn được, có khi lại sa vào sự liệt kê đài dòng, nói lại nhưng không đầy đủ ý kiến của người khác hoặc vì sợ thiếu những "lời vàng ý ngọc” của thủ trưởng hay lãnh đạo cấp trên.
Vì lí do đó, ban tổng kết Hội nghị không còn là bản đánh giá toàn điện hoạt động của đơn vị hay tập thể nữa mà chỉ còn là những lời cám ơn, khích lệ và cả những lời tang bốc, xu nịnh mà thôi. ˆ Những quan điểm nêu trên tuy được diễn đạt ở nhiều góc độ khác nhau nhưng đều nhấn mạnh một điểm chung, khẳng định kĩ năng là một khái niệm mà nội dung bao gồm 2 yếu tố là "biết" và "làm". Một người được coi là biết không chỉ đơn thuần là nắm được kiến thức lí thuyết, mà phải biết đặt 3 HỘI THẢO KHOA HỌC “KY NANG SOẠN THẢO MỘT SO VAN BAN HANH CHÍNH THONG DỤNG” nó trong những hoàn cảnh, điều kiện, quan hệ nào thì mới lột tả được bản. Một người biết không chỉ là hiểu biết mà còn là biết làm.
Từ biết đến làm phải kèm theo một yếu tố (được coi như chất xúc tác) đó là năng lực. Ví dụ một nhà quản lí được coi là có kĩ năng phải hội đủ những phẩm chất sau đây: -_. Cầu thị (có tâm), am hiểu kiến thức chuyên môn mà mình quản lí. - Chiu khó học hỏi để có kiến thức và kinh nghiệm.
- Có khả năng hiểu biết, vận dụng quy luật khách quan, vận dụng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào việc xác định những biện pháp, giải pháp hay phương pháp thực hiện nhiệm vụ và yêu cầu của hoạt động quản lí. - Có kĩ năng tổ chức, liên kết các bộ phận, các hành vi của cá nhân để phối hợp, cộng tác thực hiện nhiệm vụ được giao (có tầm). - _ Biết tổng kết và rút kinh nghiệm trên cơ sở đánh giá những công việc đã làm, chỉ rõ nguyên nhân và trách nhiệm của cá nhân, tổ chức đối Với công việc được giao. Như vậy, một người biết là người có năng lực thực hành thì mới được coi là người biết làm.
Người làm tốt công việc được giao mới chỉ được coi là hoàn thành nhiệm vu, chứ chưa phải là người có kĩ năng. Người có kĩ năng là người hiểu biết, có tri thức để vận dụng nó trong thực tiễn, tạo ra sản phẩm với năng suất, chất lượng cao, giá thành hợp lí với chi phí thấp nhất. Người có kĩ năng là người vì hiểu biết nên không cứng nhắc trong vận dụng những kiến thức ấy. Vi dụ, ki năng soạn thảo báo cáo.