phần mở đầu đã nói bao gồm 13 làng (thuộc 8 phƣờng). Tuy nhiên khi nói đến Hồ Tây không thể không nói đến một vùng đất gián cách với Hồ Tây nhƣng vẫn đƣợc coi là quần thể vùng Hồ Tây, đó là vùng đất gồm các làng 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bái Ân, Trung Nha (tên Nôm là làng Nghè), Tiên Thƣợng (tên Nôm là làng Tân), Vạn Long (tên Nôm là làng Dâu), An Phú (An Phú là một làng mới nên không có tên Nôm). Vào đời Lê, Trung Nha, Tiên Thƣợng và Vạn Long nằm chung trong một xã Nghĩa Đô. Đến thế kỷ XVII, An Phú mới thành lập.
Về việc hình thành làng An Phú, theo truyền thuyết, làng này do một viên quan họ Trần, quê ở Thanh Hoá, vì có công phù Lê diệt Mạc nên đƣợc ban đất ở Nghĩa Đô lập trại, gọi là An Phú trại. Ngày nay tuy gọi chung là Nghĩa Đô và có những tƣơng đồng về lịch sử, nghề nghiệp nhƣng mỗi làng vẫn có hệ thống di tích riêng, với những vị thần đƣợc thờ phụng riêng. Ven hồ Trúc Bạch có một ngôi làng nổi tiếng kinh thành một thời với nghề đúc đồng, cung cấp những sản phẩm cao cấp cho tầng lớp quý tộc. Đó là làng Ngũ Xã, một làng đƣợc hình thành tƣơng đối muộn.
Vào khoảng thế kỷ XVII, XVIII có một số thợ đúc đồng quê ở 5 xã Đông Mai, Châu Mỹ, Lộng Thƣợng, Đại Đồng và Điện Tiền (nay thuộc huyện Văn Lâm, tỉnh Hƣng Yên). Có tài liệu nói đó là các làng An Nhuệ, Kim Tháp, Lê Xá, Thƣ Đôi, Đề Cầu (nay là huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh){60, tr.100} rời quê hƣơng ra kinh kỳ, đến bán đảo hồ Trúc Bạch lập nên một làng gọi là Ngũ Xã tràng (trƣờng đúc của 5 xã) và mở lò đúc đồng ở đây. Đời vua Lê Thánh Tông (1460-1497), khi quy hoạch lại kinh đô Thăng Long với hai huyện, 36 phƣờng thì vùng Hồ Tây lúc đó thuộc đất kinh thành. Huyện Quảng Đức có 18 phƣờng thì bao quanh Hồ Tây là 11 phƣờng.
Phía Đông tính từ phía Bắc xuống là các phƣờng: Nhật Chiêu, Quảng Bá, Tây Hồ, Nghi Tàm, Yên Hoa. Bờ Tây từ Nam lên Bắc là các phƣờng: Bái Ân, Võng Thị, Trích Sài. Bờ Nam từ Đông sang Tây là các phƣờng Thuỵ Chƣơng, Hồ Khẩu, Yên Thái. Sang đời Nguyễn, chia nhỏ các phƣờng thành các thôn trại với những tên gọi mới, song 11 phƣờng ven Hồ Tây vẫn giữ y nguyên cho đến tận thời Pháp thuộc.
Thời Pháp thuộc, từ năm 1889 đến năm 1915 vùng Hồ Tây thuộc khu ngoại thành, đến năm 1915 thì có tên huyện Hoàn Long. Sau Cách mạng Tháng 8 – 1945, các làng ven hồ trở thành các xã trong số 120 xã thuộc ngoại thành Hà Nội. Sau ngày hoà bình lập lại, năm 1954, thành phố Hà Nội gồm 4 quận nội thành (quận I đến quận IV) và 4 quận ngoại thành (quận V đến quận VIII), vùng Hồ Tây thuộc quận V. Năm 1961, thành phố Hà Nội mở rộng địa giới, gồm 4 khu phố và 4 huyện thì vùng ven Hồ Tây thuộc huyện Từ Liêm.
Cho tới năm 1995 tất cả vùng này thuộc về quận nội thành, đó là quận Tây Hồ. Một phần nhỏ thuộc quận Ba Đình (phƣờng Trúc Bạch), quận Cầu Giấy (phƣờng 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Quận Tây Hồ có 8 phƣờng đƣợc thành lập trên cơ sở sáp nhập 3 phƣờng của quận Ba Đình là Yên Phụ, Thuỵ Khuê, Bƣởi và 5 phƣờng của huyện Từ Liêm, đó là Quảng An, Tứ Liên, Phú Thƣợng, Nhật Tân, Xuân La.1 Vùng Hồ Tây còn đƣợc biết đến là một vùng đất cổ qua rất nhiều các di tích lịch sử lâu đời nằm bao sát quanh Hồ Tây. Chùa Trấn Quốc (nay thuộc phƣờng Yên Phụ), có thể nói là ngôi chùa cổ nhất vùng này vì ngôi chùa này có từ thời Lý Nam Đế (544-548).
Sách Tây Hồ chí có chép: ”. Chùa này do vua tiền Lý Nam Đế nhân nền cũ chùa An Trì từ đời Hồng Bàng mà dựng nên, cho nên gọi là chùa Khai Quốc. Chùa trƣớc ở ngoài đê, sau đến năm thứ 16 niên hiệu Hoàng Đình nhà Lê (1600-1618) vì vỡ đê, dân làng mới dời về dựng chùa phía bắc hồ Tây; Chùa Hoằng Ân ở làng Quảng Bá (nay thuộc phƣờng Quảng An), theo Tây Hồ chí chùa đƣợc xây dựng từ thời Lý và có tên là Báo Ân. Đời Trần Anh Tông năm thứ hai (1294) có cao tăng Huyền Quang từ Yên Tử về giảng kinh.
Đời vua Lê Thái Tổ (1428-1432) đƣợc xây dựng lại. Thời Minh Mệnh (1820- 1840) chùa đổi tên là Sùng Ân, đến đời Thiệu Trị (1841-1847) lại đổi là Hoằng Ân; Chùa Kim Liên ở làng Nghi Tàm (nay thuộc phƣờng Quảng An), cũng là một ngôi chùa cổ, gắn liền với truyền thuyết về công chúa Từ Hoa; Chùa Tào Sách ở làng Nhật Tân (nay thuộc phƣờng Nhật Tân), tƣơng truyền là nơi đọc sách của Linh Lang. Hiện nay, chùa còn lƣu giữ nhiều di vật có giá trị nhƣ 29 tấm bia, trong đó phần lớn là các tấm bia đời Lê, hai quả chuông – một quả lớn đúc năm Minh Mệnh thứ 3 (1822); Chùa Phổ Linh ở làng Tây Hồ (nay thuộc phƣờng Quảng An), chùa đƣợc dựng từ năm 1097 đời vua Lý Nhân Tông. Ngoài một số các chùa cổ ở trên, vùng ven Hồ Tây còn có rất nhiều các đình, đền khác.
Chẳng hạn nhƣ, đền Đồng Cổ, đền Cẩu Nhi, đền Quán Thánh. Đền Cẩu Nhi khá nhỏ, đền này xuất hiện từ những năm Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lƣ về Thăng Long (năm Canh Tuất 1010). Các nhân tố tự nhiên a. Vị trí địa lý Hồ Tây vốn là một khúc uốn của sông Hồng sau khi con sông này đổi dòng.
”Trên các đồng bằng, sông uốn khúc mở rộng vòng cung đến mức tối đa, rồi cắt khúc 1 Thành lập theo Nghị định số 69/CP ngày 28 tháng 10 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com uốn, để lại hai bên dòng những khúc cụt làm cho đồng bằng nhan nhản những đầm hồ hình móng ngựa, như ở ven sông Cà Lồ mạn Đa Phúc, tỉnh Vĩnh Phúc. Hồ Tây hình móng ngựa là khúc cụt của sông Hồng. Ngày trước Hồ Tây là dòng sông uốn khúc, sau nước chảy băng qua cuốn đất giữa khúc uốn từ Nhật Tân đến Yên Phụ ngày nay, đào thành dòng mới, thẳng và gần hơn, phù sa bồi dần lên thành hai làng Nhật Tân và Yên Phụ, càng ngày càng cô lập khúc sông cũ, làm thành Hồ Tây”{60, tr.
Các nhánh của sông Hồng ở Hà Nội bao gồm sông Đuống, sông Trà Lƣớc, sông Trà Ly ở bờ trái và sông Nam Định, sông Đào, sông Ninh Cơ ở phía bờ phải. Các con sông này đều có tốc độ dòng chảy lớn do có chiều dài ngắn, độ dốc đột ngột và phần lớn đều bị cạn vào mùa nắng {77, tr. Đê sông Hồng đƣợc đắp từ năm 1108, đoạn từ Nghi Tàm đến Thanh Trì có tên là Cơ Xá. Sông Hồng, đoạn chảy qua khu vực Hồ Tây thuộc địa phận các làng Nhật Tân, Quảng Bá, Tây Hồ, Nghi Tàm, Yên Phụ {54,tr.
Hồ Tây nằm ở phía Tây (chính xác là Tây Bắc) của Hà Nội. Khu vực Hồ Tây có địa hình khá bằng phẳng, độ cao tuyệt đối 6 - 8 m. Bề mặt địa hình bị phân cách thành các ô lớn do hoạt động đắp đê (đê Hoàng Hoa Thám, Yên Phụ, Lạc Long Quân) chống lũ lụt. Theo góc độ này có thể phân chia địa hình của khu vực Hồ Tây thành hai khu chính: khu ngoài đê và khu trong đê, lấy đê Yên Phụ từ cầu Long Biên kéo dài tới cầu Thăng Long làm trục chính.
Khu trong đê bao gồm khu vực nhỏ Hồ Tây đƣợc bao bọc bởi các đƣờng Hoàng Hoa Thám, Lạc Long Quân, Nghi Tàm, đƣờng Âu Cơ mà trung tâm là Hồ Tây và Hồ Trúc Bạch, khu tiếp theo là khu vực Phú Thƣợng và Xuân La - Xuân Đỉnh với địa hình đồng bằng đƣợc sử dụng để trồng lúa, hoa màu và cây cảnh. Khu vực địa hình ngoài đê thƣờng ngập lụt khi nƣớc sông Hồng lên cao và xảy ra các quá trình bồi tụ hoặc xói lở bờ sông. Khí hậu Hồ Tây nằm trong địa phận thành phố Hà Nội, nên khí hậu ở đây mang tính chất chung của khí hậu đồng bằng sông Hồng. Khí hậu của thành phố Hà Nội chịu ảnh hƣởng của khí hậu gió mùa điển hình.
Mùa mƣa xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 10 với một số cơn bão trung bình và bão lớn. Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 hàng năm và thƣờng kết hợp với gió mùa đông bắc lạnh. Mùa nồm thƣờng xuất hiện giữa hai mùa trên. Mùa xuân và mùa thu ở Hà Nội có thời tiết mát mẻ đặc trƣng.
17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Mùa xuân từ tháng 2 đến tháng 4 (âm lịch vào tháng 1- 3) khí trời ấm áp, cảnh vật tốt tƣơi, nhiệt độ trung bình từ 17oC đến 23oC, đầu xuân thƣờng có mƣa phùn ẩm ƣớt. - Mùa hè nhiệt độ cao, trung bình 27 - 28,90C, lƣợng mƣa rơi đạt 1852 mm chiếm 85% tổng lƣợng mƣa năm. Tháng mƣa nhiều nhất là tháng 7, 8 trung bình 366 - 404mm/tháng. - Mùa thu từ tháng 8 đến tháng 10 (âm lịch tƣơng dƣơng vào tháng 7 đến tháng 9), đặc điểm thời tiết giai đoạn này mát, gió heo may, mƣa vẫn còn khá nhiều, trời không oi bức nhƣ mùa hạ.
Nhiệt độ không khí trung bình từ 25oC đến 28oC. - Mùa đông ở khu vực Hồ Tây nói riêng và Hà Nội nói chung lạnh hơn nhiều so với điều kiện trung bình vĩ tuyến, mùa đông chỉ có thời kỳ tƣơng đối khô, còn nửa cuối thì cực kỳ ẩm ƣớt, mƣa nhiều, khí hậu biến động mạnh, nhiệt độ trung bình mùa khô khoảng 16,4 - 180C so với nhiệt độ trung bình năm (23,40C) thấp hơn 6-70C. Nhìn chung, nhiệt độ không khí tại khu vực ven hồ thấp hơn các khu vực khác trong thành phố và đạt giá trị trung bình cực đại nhiều năm vào tháng 7 là 29,1 oC và giá trị cực tiểu vào tháng 1 là 14 oC. Qua đo đạc và tính toán tại Hồ Tây, nhiệt độ nƣớc cao hơn nhiệt độ không khí từ 1-1,5 oC và ít biến động hơn so với nhiệt độ không khí nên ở khu vực giữa hồ nhiệt độ không khí thƣờng cao hơn các khu vực ven hồ.
Cụ thể là các tháng mùa hè nhiệt độ thƣờng cao hơn 0,2-0,3 oC, còn các tháng mùa đông là 1-2 o C{78, tr. Lƣợng mƣa biến động mạnh mẽ theo không gian và thời gian. Do ảnh hƣởng của hồ mà chế độ mƣa ở khu vực hồ Tây khác với các khu vực khác ở Hà Nội.