mở đầu cuộc cách mạng công nghiệp ở thế kỷ 6 XVIII. Hệ thống máy móc hình thành, cơ sở kỹ thuật thay đổi dẫn đến tổ chức sản xuất thay đổi: hoặc là hiệp tác của nhiều máy cùng loại, hoặc là hệ thống máy có sự phân công như trong công trường thủ công.Mác đã làm rõ những ưu thế của máy móc. + Về sự lạc hậu tương đối của nông nghiệp so với công nghiệp Trong chương XXIV, cái gọi là tích lũy ban đầu, C.Mác đã phân tích sự ra đời của CNTB ở Anh.Mác đã làm rõ bí mật của tích lũy ban đầu, tích lũy ban đầu là việc tước đoạt ruộng đất của nông dân, tạo sự ra đời của các cơ sở sản xuất đầu tiên của tư bản.Mác đã trình bày những đòi hỏi về bạo lực để tước đoạt ruộng đất của dân cư ở nông thôn. Những luận điểm của C.Mác chỉ rõ xuất phát điểm ban đầu từ nông nghiệp, do có tiến bộ của công cụ lao động, công nghiệp dần tách khỏi nông nghiệp và nhanh chóng trở thành ngành sản xuất chính có nhiều ưu thế so với ngành nông nghiệp, chính vì lẽ đó nông nghiệp luôn lạc hậu tương đối so với công nghiệp.Lênin trong tác phẩm “những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền xô viết” [64] đã tập trung làm rõ: Nâng cao năng suất lao động và ý nghĩa xã hội của nó là một bộ phận cấu thành quan trọng trong học thuyết của Lênin.
Nâng cao năng suất lao động là điều kiện chủ yếu để nâng cao mức sống của nhân dân. Một bộ phận cấu thành kế hoạch hợp tác hoá của Lênin là nâng cao trình độ văn hoá của nông dân. Cách mạng văn hoá còn có ý nghĩa lớn hơn nữa, ngay cả trong điều kiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, nó vẫn cần thiết cho việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật thích hợp và nâng cao nhanh chóng trình độ văn hoá của nhân dân.Lênin trong tác phẩm “Bàn về thuế lương thực” [67], để thấy rõ hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp, đã dành một phần quan trọng nói về tính tất yếu và vai trò của CNTB nhà nước trong nền kinh tế thời quá độ. Lênin cũng chỉ rõ tính tất yếu khách quan của sự tồn tại các quan hệ TBCN trong thời kỳ quá độ và đề ra nhiệm vụ phải hướng sự phát triển của chúng vào con đường CNTB nhà nước.
Trong tác phẩm này Lênin cũng nêu những hình thức 7 của CNTB nhà nước, đó là các hình thức: Tô nhượng, Chủ nghĩa tư bản hợp tác xã, đại lý, Nhà nước cho các nhà tư bản thuê xí nghiệp, vùng mỏ, khu rừng, khu đất… - V.Lênin trong tác phẩm “Bàn về chế độ hợp tác xã” [69] đã chỉ ra ý nghĩa đặc biệt của chế độ hợp tác xã trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chính chế độ hợp tác xã cho phép kết hợp đúng đắn lợi ích cá nhân của người sản xuất hàng hoá nhỏ với lợi ích của xã hội, cho phép nhà nước thực hiện kiểm tra, kiểm soát, làm cho lợi ích tư nhân phục tùng lợi ích xã hội. Cái chính là chế độ hợp tác xã được bắt đầu bằng những hình thức đơn giản nhất: hợp tác xã cung tiêu, HTX mua bán, sau đó là hợp tác xã sản xuất - đó là hình thức đơn giản nhất, dễ tiếp thu và dễ hiểu nhất đối hàng triệu quần chúng nông dân. Lênin đã xem xét chế độ hợp tác xã gắn liền với sự phát triển và củng cố nền kinh tế xã hội chủ nghĩa (nói riêng là nền nông nghiệp).
Trong những năm đầu, khi nền nông nghiệp còn yếu ớt, hợp tác xã cung tiêu hoạt động kết hợp với chủ nghĩa tư bản nhà nước; khi nền kinh tế xã hội chủ nghĩa được củng cố, hợp tác xã gắn liền với ngành nông nghiệp xã hội chủ nghĩa, Lênin xác định hợp tác xã là một biện pháp hết sức quan trọng để giải quyết nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế nông nghiệp nhiều thành phần. Các công trình khoa học của các học giả, tổ chức quốc tế Kinh tế nông thôn là một chủ đề đã được các nhà nghiên cứu ở nước ngoài quan tâm nhiều, ở những góc độ khác nhau. Trong thời gian gần đây, các nhà nghiên cứu thuộc tổ chức Nông Lương của Liên hiệp quốc (FAO) và ở các nước như Hàn Quốc, Ấn Độ, Trung Quốc. đã đưa ra một số công trình nghiên cứu về kinh tế nông thôn mà Việt Nam có thể tham khảo: - Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế: “Công nghiệp hóa nông thôn Hàn quốc: Bài học cho phát triển nông thôn Việt Nam” [116] gồm 24 bài viết của các học giả quốc tế và trong nước trình bày các nội dung công nghiệp hóa nông thôn ở Hàn Quốc; xu hướng phát triển nông thôn mới ở Hàn Quốc; công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn trong phát triển bền vững ở Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; kinh nghiệm phát triển nông thôn mới ở Hàn Quốc và bài học cho phong trào nông thôn mới ở Việt Nam.
Đặc biệt kỷ yếu phân tích rõ Saemaul 8 Undong của Hàn Quốc (Phong trào đổi mới của cộng đồng Hàn Quốc hay là phong trào xây dựng làng mới). - Bài viết của tác giả Junior Davis [143] đã phân tích kinh tế phi nông nghiệp tại nông thôn ở các nền kinh tế chuyển đổi (từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường) ở Đông và Trung Âu, bán đảo Balkans và các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ trong giai đoạn từ 1991 - 2006. Theo kết quả nghiên cứu, kinh tế phi nông nghiệp chiếm từ (50 - 70)% thu nhập của nông dân các nước này, vì vậy không thể chỉ coi đó là cứu cánh tạm thời mà cần phải được xem xét trong chiến lược phát triển tổng thể. Nhiều hướng tiếp cận được gợi ý để phát triển khu vực kinh tế này, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của nhà nước trong việc cung cấp ổn định chính trị, kết cấu hạ tầng, giáo dục, hỗ trợ về tài chính và tín dụng… - Trong bài: “Cải cách chính sách nông nghiệp và điều chỉnh cấu trúc” tác giả: Hanho Kim, Yong-Kee Lee [140] đã phân tích chính sách nông nghiệp qua các thời kì ở Hàn Quốc (1950 - nay) và Nhật Bản (1860 - nay).
Cả hai nước đều trải qua một thời kì dài bảo hộ nông nghiệp và an ninh lương thực được đề cao (đặc biệt với lúa gạo), sau đó là quá trình chuyển đổi mạnh mẽ hướng tới thị trường (từ cuối những năm 1980 đến nay) nhằm tăng cường năng suất lao động và tính cạnh tranh của nông nghiệp trong nước. Đồng thời, bài viết cũng đã làm rõ sự khác biệt về chính sách nông nghiệp ở hai nước trên cơ sở phân tích những điểm khác nhau về điều kiện tự nhiên, tính chất cơ cấu nông nghiệp… từ đó đưa ra những gợi ý cho những điều chỉnh chính sách trong tương lai. - Trong bài: “Cải cách hệ thống và cấu trúc nông nghiệp của Trung Quốc tiến tới gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO” [135], tác giả DuYing đã điểm lại những thành tựu của nông nghiệp Trung Quốc sau 20 năm tiến hành chuyển dịch cơ cấu và cải cách nông nghiệp (1978 - 1999). Đồng thời, tác giả cũng nhận định những cơ hội và thách thức đối với nông nghiệp Trung Quốc một khi nước này gia nhập WTO, trong đó thách thức được coi là nhiều hơn trong ngắn hạn và chỉ có thể vượt qua bằng một nỗ lực lớn từ phía nhà nước trong việc đưa ra các chính sách nông nghiệp hợp lý.
Những chính sách được 9 gợi ý bao gồm tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sang những loại nông sản có lợi thế so sánh, phát triển công nghiệp chế biến, giải quyết lao động thừa ở nông thôn… - Trong bài: "Những việc không bao giờ kết thúc: Nông nghiệp Ấn Độ theo cải cách cấu trúc” [145] Servaas Storm đã phân tích những tác động trong trung hạn của chính sách tự do hóa thương mại trong lĩnh vực nông nghiệp ở Ấn Độ giai đoạn 1985 - 1990, đặc biệt là tác động đến động cơ làm việc của nông dân vì sự thiếu thốn những khuyến khích được coi là cản trở chính đối với đầu tư tư nhân vào nông nghiệp và nỗ lực tăng năng suất lao động. Theo đó, can thiệp chủ động và tích cực của nhà nước trong việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, dỡ bỏ những hàng rào đối với đầu tư tư nhân vào nông nghiệp… được các tác giả gợi ý và ủng hộ mạnh mẽ. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Nhóm các công trình khoa học nghiên cứu về kinh tế nông thôn - Đề tài: "Nghiên cứu sự hình thành và phát triển làng nghề mới gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá vùng đồng bằng sông Hồng" [4].
Đề tài khoa học của Ban Kinh tế trung ương nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, trong đó chú ý làm rõ vai trò quan trọng của việc hình thành và phát triển làng nghề. - Tác giả Nguyễn Huy Oánh trong đề tài: “Nông nghiệp Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế” [84] đã tập trung phân tích làm rõ những thành tựu và hạn chế của nông nghiệp Việt Nam sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới khi hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Đồng thời cũng làm rõ những cơ hội và thách thức của nông nghiệp Việt Nam. Trên cơ sở đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp để đưa nông nghiệp Việt Nam phát triển bề vững trong điều kiện hội nhập.
- Tác giả Nguyễn Tiến Dũng trong: “Phát triển kinh tế nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng trong quá trình hình thành nền kinh tế thị trường định hướng 10 XHCN” [33] đã làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của KTNT trong quá trình hình thành nền kinh tế rhị trường định hướng XHCN. Từ việc phân tích thực trạng phát triển kinh tế nông thôn đồng bằng sông Hồng trong những năm đổi mới. Tác giả đã đề xuất những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển KTNT vùng đồng bằng sông Hồng, trong quá trình hình thành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tuy nhiên luận án này chưa bàn đến phát triển KTNT bền vững; chưa thực sự gắn kết giữa phát triển KTNT hàng hoá với tiến bộ, công bằng xã hội và văn hoá, môi trường, quốc phòng an ninh.