CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT KINH TẾ NÔNG NGHIỆP HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH TRƯỚC NĂM 2000 1. Những điều kiện phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định 1. Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Tây Sơn là một huyện nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Bình Định, Việt Nam, có diện tích tự nhiên 692,96 km2 và dân số 176.
Là vùng địa lý quan trọng ở khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ, là huyện tiếp giáp với đồng bằng duyên hải miền Trung, nơi có cảng Quy Nhơn và quốc lộ 19 kết nối vùng Tây Nguyên rộng lớn đầy tiềm năng. Đây là khu vực phát triển năng động và là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội phía Tây tỉnh Bình Định. Huyện Tây Sơn là nơi bắt đầu của một khu vực đồng bằng rộng lớn trên lưu vực sông Côn và sông Hà Thanh, không giáp biển, có vị trí địa lý: Phía đông giáp thị xã An Nhơn và huyện Phù Cát. Phía tây giáp huyện Đak Pơ, huyện Kông Chro và thị xã An Khê thuộc tỉnh Gia Lai.
Phía nam giáp huyện Vân Canh. Phía bắc giáp huyện Vĩnh Thạnh. Địa hình – đất đai Theo kết quả điều tra khảo sát cho thấy, địa hình Tây Sơn tương đối phức tạp, có núi cao, gò đồi xen kẽ đồng bằng, bị chia cắt mạnh bởi nhiều sông suối lớn nhỏ trong vùng. Phần lớn địa hình chủ yếu là đồi núi thấp có độ cao dưới 500m, nơi thấp nhất là mặt sông Côn, cao khoảng 15m so với mực nước biển, nơi cao nhất là đỉnh Hòn Nóc cao 902m.
Địa hình toàn huyện như là một thung lũng hở thấp dần từ Tây sang Đông. Huyện Tây Sơn có 3 loại địa hình chính là địa hình đồi núi, gò đồi thấp và đồng bằng. 9 - Địa hình đồi núi: Dạng địa hình này có diện tích là 25.847 ha, phân bố dọc theo hướng phía Bắc sang phía Tây chạy xuống phía Nam thuộc các xã Bình Tân, xã Tây Thuận, xã Tây Giang, xã Bình Tường, xã Tây Phú, xã Vĩnh An. Độ cao phổ biến từ 400m - 800m, độ dốc trên dưới 250.
Địa bàn này tập trung phần lớn là trồng rừng tự nhiên phòng hộ đầu nguồn cho các hệ thống hồ, đập và thuận lợi cho việc trồng các loại cây công nghiệp lâu năm như điều, cà phê, hồ tiêu… - Địa hình đồi gò thấp: Diện tích là 27.125 ha, là phần chuyển tiếp giữa trung du và đồng bằng. Dạng địa hình này phân bố hầu hết ở các xã trong huyện, độ cao trung bình từ 100m - 400m, độ dốc từ 10 - 20°. Đa phần diện tích này là đất trống đồi núi trọc, phần còn lại là diện tích đất trồng nương rẫy và một số cây công nghiệp lâu năm như điều, bạch đàn. - Địa hình bị chia cắt mạnh, độ dốc khoảng 20 - 250.
Hiện trạng chủ yếu là đất rừng. - Địa hình đồng bằng: Diện tích 17.831 ha, phân bố dọc hai bên bờ sông Côn, rộng dần theo hướng Đông Nam, là địa bàn phân bố dân cư tập trung và sản xuất nông nghiệp chính của huyện Tây Sơn, thích hợp cho trồng các loại cây như cây lúa, rau, cây ăn quả… Căn cứ theo kết quả nghiên cứu đất huyện Tây Sơn theo phương pháp của FAO UNESCO của Hội Khoa học Đất Việt Nam năm 1996 và kết quả phúc tra bản đồ, tổng hợp diện tích các loại đất trên bản đồ tỷ lệ 1/50.000 của Phân viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp Miền Trung - tháng 6 năm 2003 cho thấy đất ở Tây Sơn có 5 nhóm đất chính mang các đặc điểm và tính chất sau: * Nhóm đất cát (Arenososl - AR) Diện tích là 472,00 ha, chiếm 0,67% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung ven bờ sông Côn trải dài từ các xã Tây Giang qua Bình Tường, Phú Phong, Tây Xuân, Bình Thành, Bình Nghi. Chúng tạo thành các dải rộng hẹp 10 khác nhau. Các bãi cát, đụn cát thường có màu trắng hoặc vàng trắng.
Hiện nay diện tích này rải rác được sử dụng trồng hoa màu, cây công nghiệp hằng năm và cây ăn quả. * Nhóm đất phù sa - P(Fluvisols - FL) Diện tích là 8.374,00 ha, chiếm 11,83% diện tích tự nhiên, có độ dốc 0 – 30, tầng dày từ 80 - 100 cm [78, tr. Nhóm đất này đã được hình thành từ những sản phẩm bồi đắp của dòng sông Côn và các sông suối nhỏ. Nhóm đất phù sa ở đây có rất nhiều thuận lợi cho việc sản xuất bởi được phân bố trên địa hình bằng, gần nguồn nước, dễ tưới tiêu… Những năm qua nhờ được canh tác một cách hợp lý nên độ phì nhiêu của đất ngày càng tăng.
Hiện nay, diện tích nhóm đất này hầu như đã được sử dụng một cách triệt để cho sản xuất nông nghiệp đặc biệt là canh tác lúa hai, ba vụ và cây hoa màu tập trung tại các xã Tây Xuân, Tây Phú, Bình Tường, Bình Thành, Bình Hòa, Tây Bình, Tây An, Tây Vinh, Bình Nghi. * Nhóm đất Gley - Gl (Gleysosl - GI) Diện tích 661,00 ha, chiếm 0,93% diện tích tự nhiên, tập trung chủ yếu ở xã Bình Hoà. Đất có hàm lượng mùn và đạm tổng số từ trung bình đến khá. Hiện nay, đang được sử dụng trồng hai - ba vụ lúa cho năng suất cao và ổn định.
Để sử dụng có hiệu quả hơn cần chú ý đến việc thoát nước, cày ải và có chế độ bón phân thích hợp cũng như đa dạng hoá cây trồng. * Nhóm đất xám (Acrisosl - AC) Diện tích 43.551 ha, chiếm 61,51% diện tích tự nhiên của huyện. Đất xám có nhược điểm là chua, nghèo dinh dưỡng, thường bị khô hạn nhưng rất có giá trị trong nông nghiệp, đặc biệt đối với Tây Sơn, do phần lớn diện tích nằm ở địa hình bằng phẳng, thoải, đất thoáng khí, thoát nước, dễ canh tác và thích hợp với sự sinh trưởng và phát triển của nhiều cây trồng cạn (ngô, khoai, săn, lúa .) và các cây lâu năm như điều, cây ăn quả, dâu tằm, bông vải. 11 * Đất tầng mỏng - E(Leptosols - Lp) Diện tích 15.404 ha, chiếm 21,76 % diện tích đất tự nhiên, sử dụng vào mục đích sản xuất nông lâm kết hợp [78, tr.
Tuy vậy, trong quá trình khai thác và sử dụng cần phải đầu tư cải tạo nhiều thì mới mang lại hiệu quả kinh tế cũng như bảo vệ môi trường. Khí hậu * Nhiệt độ Nhiệt độ trung bình năm của huyện Tây Sơn là 26,50 độ C, nhiệt độ trung bình cao nhất là 29,50 độ C. Nhìn chung, nền nhiệt độ tương đối cao, nắng nóng quanh năm, đây là điều kiện thuận lợi cho cây trồng nhiệt đới phát triển tốt. Khung nhiệt độ nằm trong khoảng 15 400C chưa vượt quá mức độ giới hạn về yêu cầu sinh thái của các loại cây con hiện có trong vùng.
* Lượng mưa - Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.750 mm/năm, phân bố theo 2 mùa rõ rệt trong năm. + Mùa mưa (bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc là tháng 1 năm sau) và lượng mưa tập trung chủ yếu vào 2 tháng 10 và 11. Những tháng mùa mưa lượng mưa đạt từ 1.500 mm, chiếm 75 - 80% lượng mưa cả năm. + Mùa khô (từ tháng 2 đến tháng 8), lượng mưa đạt từ 400 - 700 mm, những tháng ít mưa nhất là tháng 3, 4 và 5.
Lượng mưa phân bố không đều trong năm, mặt khác mùa khô kéo dài, đây là hạn chế rất lớn cho sự phát triển trong sản xuất nông nghiệp. * Gió - bão - Chế độ gió Nằm trong khu vực gió mùa Đông Nam Á, chịu ảnh hưởng từ gió mùa mùa đông và gió mùa mùa hạ. Hướng gió cũng mang đặc trưng theo từng mùa. Mùa đông, hướng gió thổi theo hướng Tây Bắc đến Bắc.
Mùa hạ, hướng gió trong nửa đầu mùa hạ là hướng Đông đến Đông Nam và nửa cuối mùa hạ là hướng Tây đến Tây Bắc. Tốc độ gió bình quân năm là 2,1 m/s, trung bình 12 có tháng cao nhất là 2,7 - 2,8 m/s, tháng thấp nhất là 1,5 m/s [78, tr. Bão: Xuất hiện chủ yếu ở các tháng chín, mười và mười một, trong đó khả năng xảy ra bão tập trung vào tháng mười là lớn nhất. Tuy nhiên hiện tượng này diễn ra tương đối phức tạp và không theo quy luật qua các năm, có năm vào những tháng năm, sáu đã có bão đổ bộ trực tiếp vào khu vực.
Nguồn nước Về nguồn nước, gồm nguồn nước mặt nhờ con sông lớn chảy qua là sông Côn. Sông Côn dài dài 35km, nguồn nước ngầm khá phong phú, có chất lượng đạt tiêu chuẩn dùng sinh hoạt và khá dồi dào rất thuận lợi cho phục vụ sản xuất, đời sống, điều kiện khai thác dễ dàng đáp ứng yêu cầu cả khai thác đơn giản trong sinh hoạt của nhân dân và khai thác quy mô công nghiệp. Theo chủ trương phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, huyện đã cho xây dựng nhiều công trình thủy lợi để như hồ chứa, trạm bơm để dự trữ nước ở mùa mưa cung cấp cho mùa khô. Vì vậy cơ bản diện tích sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện được chủ động về mặt tưới tiêu.
Điều kiện kinh tế 1. Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp * Hệ thống thủy lợi: Trên địa bàn huyện Tây Sơn hiện có 26 hồ chứa nước lớn - nhỏ với tổng dung tích 7,2 triệu m3 như Hòn Gà (Bình Thành), Thuận Ninh (Bình Tân), Thủ Thiện (Bình Nghi), Đồng Quy (Tây An), Đồng Đo (Tây Xuân),…Đây là nguồn nước thuận lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và sinh hoạt. Tình hình các hồ chứa nước vào mùa mưa mực nước tăng nhanh, mùa khô lại chóng cạn. Cho nên vào mùa khô huyện đã củng cố các tổ thủy nông dẫn nước vào ruộng.
Ở địa phương và các đơn vị quản lý hồ chứa nước trong huyện đã xây dựng kế hoạch thực hiện các biện pháp tiết kiệm nước trong sản xuất và trong sinh hoạt đời sống, hướng dẫn chuyển đổi từ sản xuất lúa sang cây trồng cạn phù hợp, hiệu quả (đậu, bắp, rau màu các loại…). Không để 13 người dân tự phát gieo sạ lúa ở các khu vực không bảo đảm nước tưới (nhất là các hồ chứa đã cạn nước). Huyện thường xuyên tu bổ, nạo vét kênh mương, sửa chữa ngay những hư hỏng của các cống, đập, giếng khoan, giếng đào để bảo đảm dẫn nước thông suốt, kịp thời đắp bờ bao giữ nước trên ruộng, đắp đập tạm để tận dụng dòng chảy trên các sông suối nhỏ. Bên cạnh đó cũng tận dụng mọi nguồn nước trong ao, đầm, sông suối để bơm tưới, nhằm tiết kiệm nước ở các hồ chứa để tưới cho các vùng không có nguồn nước thay thế.