CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Cần nhấn mạnh rằng vấn đề KNDH không phải là mới. Ngay từ những năm 20 ở Liên Xô và các nước Đông âu đã có nhiều công trình nghiên cứu KNDH cho SV sư phạm và đến những năm 1960 vấn đề nghiên cứu trên đã trở thành hệ thống lí luận và kinh nghiệm vững chắc với những công trình của N. Vào những năm 1970 nhiều công trình nghiên cứu về tổ chức lao động khoa học và tối ưu hoá quá trình dạy học đã được tiến hành, như công trình của M.
Đáng chú ý hơn cả là công trình nghiên cứu của X.Kixêgôv: “Hình thành KN, kĩ xảo sư phạm trong điều kiện giáo dục đại học”. Tác giả nêu ra hơn 100 KN nghiệp vụ giảng dạy và giáo dục, trong đó tập trung 50 KN cần thiết được phân chia luyện tập theo từng thời kì thực hành, thực tập sư phạm cụ thể .Abdoullina cũng đã luận chứng và đưa ra một hệ thống các KN giảng dạy và KN giáo dục riêng biệt và được mô tả cụ thể theo thứ bậc. Nhìn chung những công trình nghiên cứu nói trên đã đưa ra một hệ thống lí luận tương đối cơ bản về quá trình đào tạo nghiệp vụ sư phạm. Tuy nhiên, thời đại ngày nay đã có nhiều thay đổi lớn, đặc biệt sự phát triển của khoa học 9 công nghệ đã làm thay đổi chức năng và nhiệm vụ của người GV, đòi hỏi người GV phải có những KN và năng lực mới, đồng thời một số KN và năng lực cũ không còn phù hợp nữa cần phải có sự cải tiến, bổ sung, thay đổi sao cho phù hợp với điều kiện hiện tại.
Do đó cần có sự nghiên cứu nghiêm túc hơn về vấn đề này. Ở một số nước phương Tây, các công trình nghiên cứu của J.Skinner(1963) đặc biệt quan tâm đến việc tổ chức huấn luyện các KN thực hành giảng dạy cho giáo sinh, dựa trên những thành tựu của tâm lí học hành vi và tâm lí học chức năng. Tại trường đại học quốc gia Ohio của Mỹ từ những thập niên 1970 đã có những nghiên cứu triển khai trong việc xây dựng các môdun đào tạo GV kĩ thuật - nghề nghiệp. Kết quả đưa ra được 600 KN đào tạo GV kĩ thuật- nghề nghiệp.
Trong các báo cáo ở: “Hội thảo về canh tân việc đào tạo bồi dưỡng GV của các nước châu Á và Thái Bình Dương” do APEID thuộc UNESCO tổ chức tại Seoul Hàn Quốc cũng đã xác định rõ tầm quan trọng của việc hình thành tri thức và các KN sư phạm cho SV trong quá trình đào tạo. Tuy nhiên, việc hình thành KNDH các môn học nói chung và môn Toán nói riêng (ở tiểu học) cho SV sư phạm thì hầu như chưa thấy tác giả nào đề cập tới. Ở Việt Nam, trong lĩnh vực sư phạm đã có nhiều công trình nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau. Vấn đề KN giảng dạy, nhiều tác giả xem đó như là những biện pháp thủ thuật để thực hiện PPDH đạt kết quả cao (Lê Khánh Bằng, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Viết Sự.
Ở một số giáo trình tài liệu, các tác giả đã đi sâu vào việc hướng dẫn các KN giảng dạy, các PPDH mới, KN thực tập sư phạm. Có nhiều tác giả đã trình bày một cách hệ thống, toàn diện các KN sư phạm. 10 Năm 1995, một công trình nghiên cứu có giá trị về vấn đề rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV là đề tài: “Hình thành KN sư phạm cho giáo sinh sư phạm” của Nguyễn Hữu Dũng. Trong đề tài này tác giả đã làm sáng tỏ cơ sở lí luận về KN sư phạm, vị trí của KN sư phạm trong việc hình thành năng lực sư phạm cho SV.
Sau này có nhiều đề tài cấp bộ, nhiều luận án tiếp tục tìm hiểu KN sư phạm và con đường hình thành những KN đó cho SV. Đáng chú ý là luận án của tác Nguyễn Như An: “Hệ thống KN dạy học trên lớp về môn giáo dục học và quy trình rèn luyện KN đó cho SV khoa Tâm lí- Giáo dục”. Đây là công trình nghiên cứu tương đối cơ bản, có hệ thống về vấn đề luyện tập các KN giảng dạy cho SV. Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Anh Tuấn (1996): “Xây dựng quy trình luyện tập các KN giảng dạy cơ bản trong các hình thức thực hành thực tập sư phạm”, cùng với việc chỉ ra các nhóm KNDH cần thiết tác giả cũng đã hình thành quy trình rèn luyện các KN đó cho SV trong các đợt thực hành, thực tập sư phạm.
Tác giả Nguyễn Đình Chỉnh cũng quan tâm đến việc hình thành KN nghề nghiệp cho SV ngành GDTH. Tác giả đã xây dựng quy trình luyện tập KN nghề nghiệp cho gồm hai giai đoạn: Giai đoạn luyện tập cơ bản và giai đoạn luyện tập cũng cố hoàn thiện. Mỗi giai đoạn lại có các bước tiến hành cụ thể. Gần đây nhất trên các số báo của Tạp chí giáo dục đã đăng một số bài về việc hình thành KNDH ở một số môn cho SV ngành GDTH.
Cụ thể, môn Đạo đức của tác giả Phạm Minh Hùng (số 136), môn Tập đọc của tác giả Lê Thanh Bình (số145). Các tác giả đã đưa ra quy trình hình thành KHDH cho SV ngành GDTH ở từng môn học cụ thể. Đó là một hệ thống thao tác liên tục với các bước cụ thể. Việc hình thành KNDH cho SV nói chung và SV ngành GDTH nói riêng bước đầu đã được quan tâm và đề cập tới ở một số môn học (môn Tiếng Việt, 11 Đạo đức, Tự nhiên xã hội).
Tuy nhiên, việc hình thành KNDH môn Toán cho SV ngành GDTH thì chưa có tác giả và tài liệu nào đề cập tới .2 KĨ NĂNG DẠY HỌC 1.1 Khái niệm về KN Xem xét các công trình nghiên cứu từ trước đến nay, thông qua các khái niệm chúng tôi thấy vẫn tồn tại hai quan niệm khác nhau đôi chút về KN. Quan niệm 1: Coi KN là mặt kĩ thuật của một thao tác, hành động hay một hoạt động nào đó. Muốn thực hiện được một hành động, cá nhân phải hiểu được mục đích, phương thức và điều kiện để thực hiện nó. Vì vậy nếu ta nắm được các tri thức về hành động, thực hiện nó trong thực tiễn theo các yêu cầu khác nhau tức ta đã có KN về hành động.Kruchexki thì: “KN là các phương thức thực hiện hoạt động, những cái mà con người đã nắm vững”.
Ông cho rằng: Chỉ cần nắm vững phương thức của hành động là con người có KN, không cần đến kết quả hoạt động của cá nhân [5,tr78]. Trong cuốn “Tâm lí học cá nhân” .G cũng xem: “KN là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động” [4,tr11]. Khi bàn về KN, Trần Trọng Thuỷ cũng cho rằng: “KN là mặt kĩ thuật của hành động. Con người nắm được cách thức hành động - tức kĩ thuật của hành động là có KN” [22,tr2].
Quan niệm 2: Coi KN không đơn thuần là mặt kĩ thuật của hành động mà còn là một biểu hiện năng lực của con người. KN theo quan niệm này vừa có tính ổn định, lại vừa có tính mềm dẻo, linh hoạt sáng tạo lại vừa có tính mục đích. Chẳng hạn, theo N.Lêvitôp: KN là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn có tính đến những điều kiện nhất định [18,tr3].Platơnôp, nhà tâm lí học Liên Xô khẳng định: “Cơ sở tâm lí của KN là sự thông hiểu mối liên hệ giữa mục đích hành động, các điều kiện và phương thức 12 hành động” [21,tr77]. Pêtrôpxki cũng định nghĩa: “KN là sự vận dụng tri thức, kĩ xảo đã có để lựa chọn và thực hiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích đặt ra” [19, tr175].
Trong từ điển Tâm lí học do Vũ Dũng chủ biên đã định nghĩa: “KN là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” [7, tr132] Như vậy ta thấy, các nhà tâm lí học theo khuynh hướng thứ hai này khi bàn về KN lại rất chú ý tới mặt kết quả của hành động. Xét về mặt bản chất hai quan niệm trên không phủ định lẫn nhau. Sự khác biệt là ở chổ mở rộng hay thu hẹp thành phần cấu trúc của KN mà thôi. Có thể hiểu: KN là khả năng thực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào đó trong những điều kiện nhất định, bằng cách vận dụng và lựa chọn những tri thức, kinh nghiệm đã có.
Khi bàn về KN cần lưu ý một số điểm sau đây. - KN trước hết là mặt kĩ thuật của một thao tác hay một hành động nhất định, không có KN chung chung, trừu tượng tách rời hành động cá nhân của con người. Khi nói tới KN là nói tới một hành động cụ thể đạt tới mức đúng đắn và thuần thục nhất định. - Thành phần của KN bao gồm tri thức, kinh nghiệm đã có, quá trình thực hiện hành động, sự kiểm soát thường xuyên trực tiếp của ý thức và kết quả của hành động.
- Tiêu chuẩn để xác định sự hình thành và mức độ phát triển của KN là: tính chính xác, tính thành thạo, tính linh hoạt và sự phối hợp nhịp nhàng các động tác trong hành động. Hành động chưa thể trở thành KN nếu hành động đó còn vụng về, còn tiêu tốn nhiều công sức và thời gian để triển khai .2 Phân biệt KN và kĩ xảo. Tuy có sự khác nhau đôi chút về định nghĩa, song hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất: “Kỉ xảo là loại hành động được tự động hoá nhờ luyện tập. Nó có đặc điểm: Không có sự kiểm soát thường xuyên của ý thức.
Động tác mang tính khái quát, không có động tác thừa, kết quả cao mà ít tốn năng lượng thần kinh và bắp thịt”. [9,tr225] Kĩ năng và kĩ xảo về bản chất đều là các thuộc tính kĩ thuật của hành động cá nhân. Chúng đều được hình thành trên cơ sở các tri thức về hành động đã được lĩnh hội và được triển khai trong thực tiễn. Tuy nhiên giữa KN và kĩ xảo có nhiều điểm khác nhau.
Sự khác nhau giữa chúng đựơc đặc trưng bởi mức độ thuần thục, tự động hoá; bởi mức độ tham gia kiểm soát của ý thức trong quá trình luyện tập cũng như vận hành trong thực tiễn; bởi cấu trúc và vai trò của chúng trong quá trình hành động .