Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm trong nghiên cứu Kiến thức: Kiến thức hay hiểu biết của mỗi người được tích lũy dần qua quá trình học tập và kinh nghiệm thu được trong cuộc sống. Kiến thức là một trong các yếu tố quan trọng giúp con người có thái độ cũng như suy nghĩ và tình cảm đúng đắn, từ đó dẫn đến hành vi phù hợp trước mỗi sự việc [4]. Thái độ: Thái độ cũng như nhiều khái niệm tâm lý khác, có nhiều quan điểm khác nhau: Theo Định nghĩa bởi 2 nhà tâm lý học người Mỹ là W.Znanieki, năm 1918 cho rằng : “Thái độ là trạng thái tinh thần của cá nhân đối với giá trị”.Allport cho rằng: “Thái độ là trạng thái sẵn sàng về tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, sử dụng sự điều chỉnh mọi ảnh hưởng năng động trong phản ứng của cá nhân với tất cả các khách thể và tình huống mà nó có mối quan hệ”.z Cũng theo như T.Newcomb cho rằng: “Thái độ là thường hướng hoạt động nhận thức, tư duy, cảm nhận của chủ thể với khách thể liên quan”.
Miaxiev cho rằng: “Thái độ là nòng cốt của nhân cách, là điều kiện khách quan bên trong của hệ thống các hành vi của con người”. Qua các khái niệm trên, ta thấy rõ các tác giả đều khẳng định khía cạnh tâm lý cá nhân trong thái độ [24]. Trong từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) cho rằng : “Thái độ là tổng thể nói chung những biểu hiện ra bên ngoài (nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động) có ý nghĩa, tình cảm của cá nhân đối với con người hay sự việc nào đó; là cách nghĩ, cách nhìn, cách hành động theo 1 hướng nào đó trước 1 vấn đề”. Trong từ điển tâm lý học khẳng định: “Thái độ là những phản ứng tức thì tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn, đồng tình hay chống đối như đã có sẵn những cơ cấu tâm lý tạo ra định hướng cho sự ứng phó” [24].
Như vậy chúng ta có thể hiểu thái độ định hướng hành vi ứng xử của con người với các vấn đề xã hội, là trạng thái tinh thần được điều chỉnh và quy định tính sẵn sàng phản ứng trên cơ sở những nhận thức đã có về đối tượng. -5- Vị thành niên: Vị thành niên (VTN) là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em thành người trưởng thành. Ở giai đoạn này có đặc điểm tâm sinh lý đặc thù như thích thử nghiệm, thích khám phá năng lực bản thân, năng động, sáng tạo. Tại Việt Nam, VTN được định nghĩa là lứa tuổi từ 10-19.
Tuy nhiên về mặt pháp luật VTN được quy định dưới 18 tuổi [8]. An toàn tình dục : An toàn tình dục bao gồm 2 yếu tố: không có nguy cơ nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục (NKLTQĐTD) và mang thai ngoài ý muốn [6]. Biện pháp tránh thai: Là các biện pháp can thiệp tác động lên cá thể nhằm ngăn cản việc thụ thai ở người phụ nữ. Các biện pháp tránh thai thường áp dụng như thuốc, hóa chất, thiết bị đưa vào cơ thể, các thủ thuật ngoại khoa cắt đứt đường đi, ngăn cản tinh trùng gặp trứng, hoặc các nổ lực của các cá nhân nhằm tránh thụ thai [25].
Bao cao su: Bao cao su là BPTT có tác dụng ngăn cản tinh trùng gặp trứng. Bao cao su có hai loại: loại sử dụng cho nam và loại sử dụng cho nữ [6]. Viên thuốc tránh thai kết hợp: Là BPTT tạm thời, chứa 2 loại nội tiết là estrogen và progestin. Sử dụng viên thuốc tránh thai kết hợp đòi hỏi khách hàng phải uống thuốc đều đặn.
Người nhiễm HIV hay có bạn tình nhiễm HIV có thể sử dụng viên thuốc tránh thai kết hợp nhưng cần lưu ý là BPTT này không giúp ngăn ngừa NKLTQĐTD và HIV/AIDS [25]. Viên tránh thai khẩn cấp [24]: Là BPTT được áp dụng ngay sau khi giao hợp không được bảo vệ và có nguy cơ có thai ngoài ý muốn, gồm các biện pháp: Estrogen liều cao: được chỉ định trong vòng 72 giờ sau giao hợp. Viên progestin đơn thuần liều cao (Postinor). Mifepristone (Ru-486) -6- Bệnh lây lan qua đường tình dục (viết tắt bằng tiếng Anh: STD (Sexsually Transmitted Desease) là một khái niệm chỉ một nhóm bệnh lây lan bằng con đường tiếp xúc tình dục, bao gồm giao hợp qua âm đạo, qua miệng hay qua hậu môn.
Có rất nhiều loại bệnh lây lan qua đường tình dục. Khả năng lây lan của loại bệnh này rất cao và bất cứ ai cũng có thể mắc căn bệnh này nếu có đời sống tình dục không lành mạnh [3]. Thực trạng an toàn tình dục vị thành niên 1. Trên thế giới.
Trong thập kỷ 60 và đầu thập kỷ 70 của thế kỷ trước, cuộc cách mạng tình dục đã thực sự đem lại những thay đổi quan trọng trong hành vi tình dục ở nhiều nước phát triển phương Tây, đặc biệt là ở Mỹ và Anh. Sự ra đời của viên thuốc tránh thai đã được phụ nữ sử dụng rộng rãi. Hầu hết các BLTQĐTD được biết đến vào thời đó đều có thể chữa khỏi (chưa có HIV/AIDS). Trong bối cảnh này đã làm cho thế hệ trẻ trong thời gian bùng nổ dân số không ngần ngại có những quan hệ tình dục ngoài hôn nhân.
Chưa bao giờ tình dục được đề cập đến một cách công khai như ở giai đoạn này, các phương tiện truyền thông đại chúng như ấn phẩm, âm nhạc, sân khấu, báo chí đều nói đến tình dục. Cho đến thập kỷ 80, với sự xuất hiện đại dịch AIDS, lúc này thái độ của xã hội về tình dục bắt đầu dè dặt [12]. Ngày nay, 4 quan tâm lớn của xã hội đối với SKSS VTN nói chung đã được xác định đó là: quan hệ tình dục (QHTD) sớm dẫn đến có thai ngoài ý muốn, nạo hút thai không an toàn, nguy cơ nhiễm các BLTQĐTD trong đó có HIV/AIDS và những chấn thương tâm lý. Ước tính mỗi năm trên thế giới có khoảng 16 triệu nữ tuổi từ 13 đến 18 tuổi có thai, 95% trong số này tập trung ở các quốc gia kém phát triển và đang phát triển.
Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá Việt Nam là nước có tỉ lệ phá thai cao nhất châu Á và là một trong 5 nước có tỉ lệ phá thai cao nhất trên thế giới [10]. Trong một nghiên cứu khác tại Ethiopia, năm 2014 khảo sát 807 học sinh nữ trường phổ thông kết quả cho thấy có 21,2% người tham gia nghiên cứu có bạn tình, trong đó khoảng 2/3 (74,3%) có 1 bạn tình trong thời gian nghiên cứu, 85,8% đã sử dụng các biện pháp tránh thai và có đến 15,7% đã mang thai ít nhất một lần trước đây thì có -7- 90% đã từng nạo phá thai [54]. Nghiên cứu 368 sinh viên cũng tại Ethiopia năm 2012 cho thấy có 23,4% là hoạt động tình dục [59]. Một nghiên cứu khác tại Nam Phi năm 2012 cho thấy có 57,2% sinh viên hiện đang hoạt động tình dục [50].
Theo nghiên cứu của E.Mastasa và các cộng sự năm 1998 về sức khỏe sinh sản và tình dục trên trên 892 học sinh tại 18 trường tiểu học và 5 trường trung học ở Mwanza Region tại Tanzania cho thấy 80% bạn nam và 68% bạn nữ đã từng có quan hệ tình dục trong đó có 14% nữ sinh đã từng mang thai và hơn 1 nữa chấm dứt tình trạng thai kỳ, 30% số học sinh biết cách sử dụng bao cao su và 33% nam, 25% nữ biết được các bệnh lây qua đường tình dục [52]. Tại Việt Nam Theo báo cáo tình hình thực hiện dự án mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản của Vụ sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em – Bộ Y tế, tỷ số phá thai ở Việt Nam còn rất cao, năm 2013 là 27% trẻ đẻ sống. Điểm đáng chú ý hơn cả là tỷ lệ nạo phá thai ở nhóm tuổi từ 15-24 khá cao, trong đó tỷ lệ nạo thai trong tổng số nạo thai/hút điều hoà kinh nguyệt ở nhóm tuổi này là 36,8%, cao hơn hẳn so với 2 nhóm tuổi còn lại, nhóm tuổi từ 25-34 là 29,3%, nhóm tuổi từ 35-49 là 29,1%. Trong một nghiên cứu của Hội Phụ sản khoa và sinh đẻ có kế hoạch năm 2006 cho biết tỷ lệ phá thai trong nghiên cứu tập trung đông nhất ở lứa tuổi từ 20-24 với 64,74%, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có 20,5% là học sinh, sinh viên đã từng phá thai trong tổng mẫu nghiên cứu.
Trong một công bố năm 2008 của bệnh viện Phụ sản Trung Ương cho biết có hơn 31% trong tổng số 154 trường hợp phá thai từ 17-22 tuần tuổi là đối tượng học sinh, sinh viên [12]. Mặt khác, báo cáo quốc gia về thanh niên Việt Nam năm 2015 cho thấy tuổi quan hệ tình dục lần đầu trung bình đối với toàn mẫu là 18.2 đối với nam giới và 18.0 với nữ giới). Thanh niên nông thôn có tuổi quan hệ tình dục lần đầu là 18.0 tuổi, sớm hơn thanh niên ở đô thị (thanh niên đô thị có tuổi quan hệ tình dục lần đầu là 18. Một nghiên cứu tại Vĩnh Phúc cho thấy trong số 203 nam công nhân chưa kết hôn có 54,7% đã từng qua hệ tình dục có gần 1/3 đã từng quan hệ tình dục là nhóm 18-21 tuổi [34].
Tác giả Khuất Thu Hồng và các cộng sự tiến hành nghiên cứu từ năm 2003- -8- 2007 tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Hà Tây cho thấy 19,31% người ở nhóm tuổi 15-24 có quan hệ tình dục trước hôn nhân [17]. Nghiên cứu tại trường Đại học Tây Nguyên, năm 2014 cho thấy tỉ lệ quan hệ tình dục trước hôn nhân chiếm 20,3%, trong đó nam chiếm 39,9% và nữ là 12,1%. Đối tượng mà sinh viên từng có quan hệ tình dục với chủ yếu là người yêu (89,8%), bạn bè chiếm tỉ lệ 10,2%. Bạn tình đầu tiên là người yêu chiếm tỉ lệ 87,8% [2].
Tuy nhiên có đến 15,6% trong số phụ nữ tuổi từ 15–19 có nhu cầu tránh thai không được đáp ứng. Điều này phản ánh và phần nào giải thích cho sự ghi nhận ở trên rằng phụ nữ trẻ ở nhóm tuổi này hầu như không sử dụng các biện pháp tránh thai [43]. Việt Nam hiện nằm trong danh sách 10 nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới (khoảng 20%). Tỷ lệ nạo hút thai trong vị thành niên, thanh niên và nguy cơ lây nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong giới trẻ có xu hướng tăng, chỉ có 1/3 thanh niên quan hê tình dục trước hôn nhân sử dụng biện phấp tránh thai [19].