CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số lí thuyết liên quan đến việc dạy học Tập làm văn theo hướng phát triển năng lực 1. Lí thuyết ngôn ngữ học văn bản Ngôn ngữ học văn bản nghiên cứu rất nhiều vấn đề về văn bản từ nội dung - ngữ nghĩa đến hình thức - kết cấu. Văn bản được xem xét dưới hai góc độ: tĩnh và động.
Ở dạng tĩnh, các nhà nghiên cứu đã tìm ra các mô hình, sơ đồ, công thức của văn bản. Ở dạng động, văn bản lại được xem xét ở các mặt, từ hành vi lập ý xét về nội dung, hành vi xây dựng kết cấu xét về mặt cấu tạo, đến hành vi tác động xét về mặt dụng học. Với nội dung nghiên cứu như vậy, ngôn ngữ học văn bản đã góp phần đắc lực cho việc đề xuất những nội dung lí thuyết làm văn và những kĩ năng cần rèn luyện cho HS trong phân môn Tập làm văn thuộc môn học Tiếng Việt ở nhà trường tiểu học hiện nay. Với đề tài này, chúng tôi xem xét những vấn đề cơ bản sau đây của lí thuyết ngôn ngữ học văn bản.
Khái niệm của văn bản Hiện tại, khái niệm văn bản được hiểu theo nghĩa rộng và hẹp. Theo nghĩa rộng, văn bản chỉ sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ ở cả hai hình thức nói và viết; còn theo nghĩa hẹp, văn bản chỉ sản phẩm giao tiếp bằng ngôn ngữ tồn tại ở dạng viết. Liên quan đến văn bản còn có các khái niệm ngôn bản, diễn ngôn, v. Có thể định nghĩa văn bản như sau: Văn bản là sản phẩm hoàn chỉnh của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, chủ yếu tồn tại ở dạng viết, thường là một tập hợp câu có tính liên kết chặt chẽ, trọn vẹn về nội dung, hoàn chỉnh về hình thức, độc lập trong giao tiếp và có một hướng đích nhất định.
Định nghĩa trên đã khái quát được những đặc điểm chung, bản chất nhất của văn bản, đó là: Tính trọn vẹn về nội dung, hoàn chỉnh về hình thức; tính liên kết chặt chẽ, mạch lạc và tính hướng đích. Trong đó, lí thuyết ngôn ngữ học văn bản nhấn mạnh: Văn bản thường là một chuỗi câu được sắp xếp phù hợp với những nguyên tắc tổ chức nhất định, theo một kết cấu nhất định. Sự sắp xếp tuỳ tiện của một chuỗi câu đúng ngữ pháp không thể tạo thành một văn 15 bản. Nhân tố quyết định để chuỗi câu trở thành văn bản chính là tính mạch lạc và tính liên kết.
Vì vậy, để có cơ sở hướng dẫn HS tạo lập các văn bản (bài nói, viết) cũng như đánh giá hiệu quả của việc tạo lập ấy không thể không xem xét các khía cạnh về mạch lạc và liên kết của văn bản. Mạch lạc và liên kết trong văn bản a) Mạch lạc Mạch lạc (Coherence) là một khái niệm phức tạp và bao gồm nhiều yếu tố trừu tượng, không dễ xác định. Mạch lạc không chỉ được nghiên cứu trong văn học, trong ngôn ngữ học mà cả trong tâm lí học. Trên thực tế đã tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “mạch lạc” này.
Có nhà nghiên cứu ngôn ngữ học cho rằng, mạch lạc là “đặc tính bảo đảm cho các yếu tố khác nhau trong một văn bản khớp được với nhau trong một tổng thể gắn kết”; hoặc mạch lạc là “sự nối kết có tính chất logic được trình bày trong quá trình triển khai một cốt truyện, một truyện kể.”; hoặc mạch lạc là “những mối quan hệ kết nối thiết lập được thông qua ý nghĩa giữa các câu”; “tính lập luận là sợi chỉ đỏ đảm bảo tính mạch lạc về nội dung bên cạnh tính liên kết về hình thức của văn bản, của diễn ngôn”. [5] Có thể thấy, khi đề cập đến mạch lạc, các nhà nghiên cứu đều khẳng định, mạch lạc là đặc trưng cơ bản nhất của một văn bản. Mạch lạc có thể được hiểu là sự gắn kết của các yếu tố tạo nên nội dung văn bản; cũng có thể được hiểu là sự hoạt động của một tập hợp các thao tác đảm bảo tính tích hợp về nhận thức đối với văn bản được thể hiện trong cách xác lập những quan hệ logic, chẳng hạn như những quan hệ về nguyên nhân - kết quả, không gian - thời gian, tương phản, nhượng bộ,. Mạch lạc là kết quả hoạt động tương tác của nhận thức được thể hiện trong văn bản.
Vấn đề mạch lạc cũng đã được đưa vào Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn và được xác nhận là đặc trưng cơ bản nhất của văn bản. Khi nói về tính mạch lạc của văn bản, SGK Ngữ văn 7, tập 2 đã viết: “Một văn bản có tính mạch lạc là văn bản có các phần, các đoạn, các câu đều nói về một đề tài, biểu hiện một chủ đề chung xuyên suốt. Các phần, các đoạn, các câu phải được nối tiếp theo một trình tự rõ ràng, hợp lí, trước sau hô ứng nhằm làm cho chủ đề liền mạch và gợi được nhiều hứng thú cho người đọc (người nghe)”. Ở nhà trường phổ thông, tính mạch lạc trong văn bản được thể hiện cụ thể qua những mặt chủ yếu như sau: 16 * Mạch lạc về đề tài Đề tài ở đây được hiểu là mảng hiện thực được tác giả nhận thức và trình bày trong văn bản.
Đề tài có thể rộng, ví dụ như đề tài về nông thôn, đề tài về HS. nhưng đề tài của văn bản cũng có thể hẹp hơn, nghĩa là mảng phạm vi hiện thực nhỏ hơn, ví dụ mảng hiện thực về đời sống vật chất hoặc đời sống tinh thần của nông dân, về việc trồng lúa, trồng rau hoặc trồng các loại cây khác của họ. Đề tài của văn bản có thể là một sự việc, một hiện tượng, một thái độ, một chính kiến, một quan điểm nào đấy,. được tác giả nhận thức.
Khi tất cả các câu trong văn bản chỉ tập trung nói về một hiện thực duy nhất, hoặc về những mảng hiện thực có quan hệ rất gần gũi với nhau, không thể tách rời nhau như những mối quan hệ ràng buộc tất yếu thì văn bản đó được xác nhận có sự mạch lạc về đề tài. Trong văn bản, mạch lạc về đề tài được thể hiện chủ yếu qua hệ thống các danh từ, ngữ danh từ hoặc hệ thống của các đại từ. * Mạch lạc về chủ đề Trong ngôn ngữ học văn bản, chủ đề được hiểu là quan điểm, thái độ, chính kiến hoặc điều tác giả muốn dắt dẫn người đọc đến thông qua đề tài của văn bản. Như vậy, khái niệm chủ đề ở đây có thể có những điểm khác biệt nhất định so với khái niệm chủ đề hoặc tư tưởng chủ đề trong lí luận văn học.
Đề tài có thể giống nhau trong một số văn bản nhưng chủ đề lại có thể rất khác nhau giữa các văn bản đó. Có thể cùng đề tài nhưng ở văn bản này là sự ngợi ca, cảm thông, đồng điệu, nhưng ở văn bản khác lại có thể là sự phê phán, lên án, đả kích,. Khi tất cả các câu trong một văn bản đều được viết theo một quan điểm, một chính kiến hay một tình cảm, thái độ nhất quán, văn bản đó được xác nhận có sự mạch lạc về chủ đề. Nói một cách khác, khi các câu trong văn bản đều được viết theo cùng một hướng đích, văn bản đó sẽ có sự mạch lạc về chủ đề.
Chủ đề trong một văn bản không phải lúc nào cũng đơn nhất mà thường là một cấu trúc bao gồm nhiều tiểu chủ đề hay nhiều chủ đề nhỏ. Mỗi chủ đề nhỏ thể hiện một khía cạnh nào đó của chủ đề lớn, góp phần làm cho chủ đề lớn được xuyên suốt trong toàn văn bản và hiện thực được phản ánh hiện lên một cách rõ ràng, chính xác, dễ hiểu. Mỗi chủ đề nhỏ có thể được thực hiện bằng một đoạn văn, hoặc một vài đoạn văn. Mỗi đoạn văn lại là một chỉnh thể nhỏ, có tính thống nhất nội tại.
Tính thống nhất về chủ đề được bộc lộ trực tiếp hay gián tiếp trong hệ thống động từ và tính từ của văn bản. Các câu, các đoạn, 17 các phần trong văn bản với các cung bậc khác nhau đều phải liên kết chặt chẽ với nhau và giới hạn trong một ý tưởng chung, một mục đích chung, cùng hướng về một chủ đề nhất định, cùng góp phần thể hiện chủ đề chung của văn bản. *Mạch lạc về logic Logic là sự phản ánh quy luật tồn tại, vận động và phát triển của hiện thực khách quan. Đồng thời, logic còn là sự phản ánh những quy luật nhận thức của con người về chính những hiện thực khách quan ấy.
Vì thế, muốn văn bản bảo đảm được tính mạch lạc về logic, văn bản cần đảm bảo phản ánh đúng những quy luật ấy. Logic của một văn bản thường bao gồm hai loại: logic hiện thực mang tính khách quan và logic trình bày mang tính chủ quan. Logic hiện thực đòi hỏi văn bản phải phản ánh chính xác sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng. Để thuyết phục người tiếp nhận văn bản đồng tình và làm cho họ tin tưởng vào những điều mà tác giả trình bày, trước hết, thông tin đưa ra trong văn bản phải được coi là đúng với hiện thực khách quan và phù hợp với ngữ cảnh.
Còn logic trình bày trong văn bản là sự sắp xếp hệ thống các ý theo một trình tự hợp lí giúp cho người đọc dễ hiểu, dễ nhận thức những nội dung thông tin trong văn bản đó. Khi trình bày về hiện thực, tác giả phải biết mở rộng và triển khai chủ đề lớn thành các chủ đề nhỏ. Mỗi chủ đề nhỏ chính là một ý hay còn gọi là một nhóm thông tin và thường được trình bày thành một đoạn văn. Các chủ đề nhỏ lại phải được sắp xếp theo một trình tự hợp lí, căn cứ vào đề tài - chủ đề của toàn văn bản, để tạo thành một chỉnh thể liền mạch, thông suốt không bị luẩn quẩn hay đứt mạch.
Vì vậy, mạch lạc trong văn bản không chỉ thể hiện ở logic của việc văn bản có phản ánh chính xác hiện thực hay không mà còn thể hiện ở việc trình bày hệ thống các chủ đề bộ phận của văn bản đó có phù hợp với quy luật của tư duy, của logic hay không, có tuân theo một trật tự không gian, thời gian, tâm lí… hợp lí hay không. Rõ ràng là những vấn đề đặt ra trong lí thuyết về ngôn ngữ học văn bản cũng chính là những vấn đề được các GV quan tâm trong việc tổ chức rdạy học và kiểm tra, đánh giá các kĩ năng làm văn cho HS.