phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, … nội dung của bài khóa luận có kết cấu bao gồm 3 chƣơng chính: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán BCTC Chƣơng 2: Thực tế quy trình kiểm toán khoản mục TSCĐ trên BCTC của công ty KPMG Việt Nam Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục TSCĐ do công ty TNHH KPMG Việt Nam thực hiện. 6 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN TSCĐ 1. Khái niệm TSCĐ đƣợc trình bày trên BCĐKT tại phần B, thuộc Tài sản dài hạn và chủ yếu bao gồm TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, TSCĐ thuê tài chính.
Trong đó: - TSCĐ hữu hình: TSCĐ hữu hình thƣờng đƣợc phân loại thành các chi tiết nhƣ: Nhà xƣởng, vật kiến trúc; Máy móc thiết bị; Phƣơng tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn; Thiết bị dụng cụ quản lý; Cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm. TSCĐ là những tƣ liệu lao động có hình thái vật chất (từng đơn vị có kết cấu độc lập, hoặc một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định) chắc chắn thu đƣợc lợi ích kinh tế trong tƣơng lai, có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên, có giá trị từ 30.000 đồng trở lên, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhƣng vẫn giữ nguyên đƣợc hình thái vật chất ban đầu. - TSCĐ vô hình: TSCĐ vô hình bao gồm các loại nhƣ: Quyền sử dụng đất có thời hạn; Nhãn hiệu hàng hóa; Quyền phát hành; Phần mềm máy tính; Bảng quyền, bằng sáng chế; Công thức và cách thức pha chế, kiểu mẫu, thiết kế và vật mẫu; TSCĐ vô hình đang trong giai đoạn triển khai, … Chúng là những tài sản không có hình thái vật chất nhƣng xác định đƣợc giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. - TSCĐ thuê tài chính: TSCĐ thuê tài chính là những TSCĐ đã đƣợc bên cho thuê chuyển giao phần lớn lợi ích và rủi ro gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê, quyền sở hữu tài sản có thể chuyển giao vào cuối thời gian thuê.
Tổng số tiền thuê một tài sản quy định tại hợp đồng thuê tài chính ít nhất phải tƣơng đƣơng giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng. Các loại TSCĐ nói trên cần đƣợc phản ánh trên BCTC theo giá trị thuần (giá trị còn lại). Tuy nhiên chuẩn mực và chế độ kế toán yêu cầu phải phản ánh đồng thời 7 z nguyên giá và giá trị chi phí khấu hao lũy kế của tài sản. Khấu hao theo chuẩn mực kế toán, là sự phân bổ có hệ thống đối với giá trị phải khấu hao của TSCĐ trong suốt quá trình sử dụng hữu ích của TSCĐ.
Giá trị phải khấu hao của TSCĐ là phần còn lại của nguyên giá sau khi trừ đi giá trị thanh lý ƣớc tính. Vì vậy quá trình kiểm toán TSCĐ gắn liền với việc kiểm toán CPKH. Đặc điểm tài sản cố định TSCĐ là một khoản mục có giá trị lớn, thƣờng chiếm tỉ trọng đáng kể so với tổng tài sản trên BCĐKT. Đặc biệt trong các doanh nghiệp sản xuất thuộc lĩnh vực công nghiệp nặng, dầu khí, … giá trị khoản mục này chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng tài sản.
Và chi phí khấu hao là một khoản ƣớc tính kế toán, không phải là chi phí thực tế phát sinh. Bởi vì mức khấu hao phụ thuộc vào ba nhân tố là nguyên giá, giá trị thanh lý ƣớc tính và thời gian sử dụng hữu ích; trong đó nguyên giá là nhân tố khách quan, còn giá trị thanh lý và thời gian sử dụng hữu ích lại căn cứ theo ƣớc tính của đơn vị. Vì vậy, việc kiểm toán chi phí khấu hao mang tính chất kiểm tra một khoản ƣớc tính kế toán cao hơn là một chi phí phát sinh thực tế, nghĩa là không thể dựa vào các chứng từ, tài liệu để tính toán chính xác đƣợc. Đồng thời, chi phí khấu hao là một sự phân bổ có hệ thống của nguyên giá sau khi trừ giá trị thanh lý ƣớc tính nên sự hợp lý của nó còn phụ thuộc vào phƣơng pháp khấu hao đƣợc sử dụng.
Vì vậy, kiểm toán chi phí khấu hao còn mang tính chất của sự kiểm tra về việc áp dụng phƣơng pháp kế toán. Nguyên tắc kế toán ghi nhận tài sản cố định Theo Thông tƣ 200/2014/TT-BTC ban hành ngày 22 tháng 12 năm 2014, nguyên tắc kế toán cho TSCĐ, BĐS đầu tƣ và XDCB DD có thể đƣợc tóm tắt với các nội dung chính sau: - Nguyên giá TSCĐ, BĐS đầu tƣ và XDCB DD đƣợc tính theo đúng quy định của pháp luật hiện hành: Nguyên giá TSCĐ do mua sắm bao gồm: giá mua (trừ các khoản đƣợc chiết khấu thƣơng mại, giảm giá), các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế đƣợc hoàn lại) và các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đƣa tài sản vào trạng thái sẵn sàng 8 z sử dụng (chi phí mặt bằng, chi phí vận chuyển và bốc xếp ban đầu, chi phí lắp đặt, chạy thử), chi phí chuyên gia và các chi phí liên quan trực tiếp khác. Nguyên giá TSCĐ là bất động sản: với tài sản này đơn vị cần tách riêng giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên đất theo quy định của pháp luật. Phần giá trị tài sản trên đất đƣợc ghi nhận là TSCĐ hữu hình, giá trị quyền sử dụng đất đƣợc ghi nhận là TSCĐ vô hình hoặc chi phí trả trƣớc tùy từng trƣờng hợp theo quy định pháp luật.
Nguyên giá TSCĐ hữu hình hình thành do đầu tƣ XDCB hoàn thành: đối với TSCĐ theo phƣơng thức giao thầu thì nguyên giá TSCĐ chính là giá quyết toán công trình xây dựng theo quy định tại Quy chế quản lý đầu tƣ và xây dựng hiện hành. Đối với TSCĐ hình thành từ tự xây dựng, nguyên giá là giá quyết toán công trình khi đƣa vào sử dụng hay giá thành thực tế cộng với các chi phí trực tiếp liên quan đến việc đƣa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng (TSCĐ hình thành từ tự sản xuất). - Chính sách kế toán, phƣơng pháp tính CPKH phải đƣợc áp dụng nhất quán và thống nhất từ năm này sang năm khác. - Kế toán phải theo dõi chi tiết nguồn hình thành TSCĐ để phân bổ chi phí khấu hao một cách phù hợp theo nguyên tắc: Đối với TSCĐ hình thành từ vốn vay hoặc vốn chủ sở hữu để phục vụ cho hoạt động SXKD thì chi phí khấu hao đƣợc tính vào chi phí SXKD trong kì.
Đối với TSCĐ hình thành từ các quỹ phúc lợi, quỹ phát triển khoa học và công nghệ hoặc từ nguồn kinh phí thì chi phí khấu hao đƣợc ghi giảm các quỹ, nguồn kinh phí hình thành TSCĐ đó. - Kế toán phân loại TSCĐ và BĐS đầu tƣ theo mục đích sử dụng. Trƣờng hợp tài sản đƣợc sử dụng cho nhiều mục đích thì phải ƣớc tính giá trị của từng bộ phận để ghi nhận sao cho phù hợp với mục đích sử dụng. Nếu có sự thay đổi về chức năng sử dụng của các bộ phận của tài sản thì kế toán đƣợc phân loại lại tài sản theo mục đích sử dụng theo quy định của các chuẩn mực Kế toán liên quan.
- Đối với TSCĐ mua mới đƣợc nhận kèm các thiết bị, phụ tùng thay thế (dành cho trƣờng hợp hỏng hóc) thì kế toán phải xác định và ghi nhận riêng sản phẩm, phụ tùng thiết bị kèm theo theo giá trị hợp lý. Nếu thiết bị, phụ tùng thay thế đủ tiêu chuẩn ghi nhận là TSCĐ thì ghi nhận là TSCĐ, còn không đủ điều kiện sẽ ghi là hàng tồn 9 z kho. Nguyên giá TSCĐ mua mới đƣợc xác định bằng tổng giá trị của tài sản mua trừ đi giá trị sản phẩm, thiết bị phụ tùng thay thế. - Kế toán TSCĐ, BĐS đầu tƣ và XDCB DD liên quan đến ngoại tệ đƣợc thực hiện theo quy định hƣớng dẫn phƣơng pháp kế toán chênh lệch tỷ giá hối đoái.
Một số lưu ý khi thực hiện nghiệp vụ kế toán TSCĐ TSCĐ là khoản mục chiếm tỷ trọng lớn trên BCĐKT nên chỉ cần một sai sót có thể ảnh hƣởng đến mức trọng yếu của BCTC. Vì vậy, kế toán phải có chuyên môn, kinh nghiệm trong việc hạch toán TSCĐ cho doanh nghiệp. Dƣới đây là một số lƣu ý khi thực hiện nghiệp vụ kế toán TSCĐ: - Nắm rõ điều kiện ghi nhận TSCĐ và CCDC hoặc TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình để tránh nhầm lẫn tài khoản khi hạch toán kế toán; - Phân biệt những loại chi phí nào đƣợc ghi tăng nguyên giá (chi phí nâng cấp TSCĐ), chi phí nào chỉ đƣợc ghi vào chi phí SXKD trong kì (chi phí bảo trì); - Khi hạch toán chi phí khấu hao cần chú ý những bộ phận sử dụng, mục đích sử dụng TSCĐ để hạch toán phù hợp vào TK 627, TK 641, TK 642, … ; - Đối với TSCĐ đã khấu hao hết nhƣng vẫn còn sử dụng thì không đƣợc khấu hao tiếp và đƣợc theo dõi riêng; - Sau khi nâng cấp TSCĐ hoàn thành thì ghi tăng nguyên giá, điều chỉnh lại thời gian sử dụng hữu ích và CPKH trong kì; - Khi TSCĐ đã đƣợc thanh lý, nhƣợng bán thì hạch toán giảm TSCĐ và lãi/lỗ từ việc thanh lý TSCĐ. Vai trò tài sản cố định trong doanh nghiệp TSCĐ là những tƣ liệu lao động chủ yếu tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chúng đƣợc coi là cơ sở vật chất kỹ thuật có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, máy móc thiết bị, quy trình công nghệ sản xuất chính là yếu tố để xác định quy mô và năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Nó gắn liền với doanh nghiệp trong suốt quá trình tồn tại nên vai trò của TSCĐ đƣợc đánh giá ở nhiều góc nhìn khác nhau, cụ thể: 10 z - Thứ nhất, TSCĐ phản ánh mặt bằng cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp, phản ánh quy mô của doanh nghiệp có tƣơng xứng hay không với đặc điểm loại hình kinh doanh mà nó tiến hành; - Thứ hai, TSCĐ luôn mang tính quyết định đối với quá trình sản xuất hàng hoá của doanh nghiệp.