lời mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác kiểm toán chu kỳ tài sản cố định trong kiểm toán Báo cáo tài chính. Chƣơng 2: Thực trạng công tác kiểm toán chu kỳ TSCĐ trong Kiểm toán BCTC do công ty TNHH Kiểm toán An Phát thực hiện. Sinh viên: Lê Thị Thúy 1 Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm toán chu kỳ TSCĐ trong kiểm toán BCTC do công ty TNHH Kiểm toán An Phát AFC thực hiện. Trong quá trình nghiên cứu thực hiện khóa luận, do năng lực bản thân còn hạn chế cũng như chưa có nhiều kiến thức thực tế nên bài viết của em không tránh khỏi thiếu sót, mong các thầy cô quan tâm, góp ý để em hoàn thiện bài khóa luận này.
Hải Phòng, ngày 27 tháng 12 năm 2016 Sinh viên Lê Thị Thúy Sinh viên: Lê Thị Thúy 2 Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TOÁN CHU KỲ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. Những vấn đề cơ bản về tài sản cố định trong doanh nghiệp. Khái niệm, đặc điểm và phân loại tài sản cố định. ♦ Khái niệm, đặc điểm của tài sản cố định.
Để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp cần thiết phải có ba yếu tố: tư liệu lao động, đối tượng lao động và lao động. TSCĐ là tư liệu lao động – một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, nó đánh giá quy mô, năng lực sản xuất và cho thấy doanh nghiệp có thực lực vững mạnh hay không? Chính vì vậy, trong sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp nói riêng cũng như toàn bộ nền kinh tế nói chung, TSCĐ là cơ sở vật chất và có vai trò rất quan trọng. Việc cải tiến, hoàn thiện, đổi mới và sử dụng hiệu quả TSCĐ là một trong những nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp và của nền kinh tế. Nhận thức đúng đắn về vai trò của TSCĐ chính là lý luận đầu tiên xây dựng nên khái niệm về TSCĐ.
Tài sản cố định hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc; máy móc, thiết bị; phương tiện vận tải;. Tài sản mua về phải thỏa mãn những điều kiện nhất định mới được gọi là TSCĐ. Theo điều 3 của Thông tư 45/2013/TT- BTC, các tài sản được ghi nhận là TSCĐ phải thoả mãn đồng thời 3 tiêu chuẩn sau: - Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó. - Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị 30.000 đồng trở lên.
- Có thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm trở lên. Tài sản cố định vô hình: là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định vô hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, như một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sử dụng; chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả,. Sinh viên: Lê Thị Thúy 3 Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp ♦ Phân loại tài sản cố định. Sự cần thiết phải phân loại tài sản cố định nhằm mục đích giúp cho các doanh nghiệp có sự thuận tiện trong công tác quản lý và hạch toán tài sản cố định.
Thuận tiện trong việc tính và phân bổ khấu hao cho từng loại hình kinh doanh. TSCĐ được phân loại theo các tiêu thức sau: Theo hình thái biểu hiện: Tài sản cố định được phân thành TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình. * TSCĐ hữu hình: Là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất, có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu. * TSCĐ vô hình là tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình.
Thuộc về TSCĐ vô hình gồm có: quyền sử dụng đất, quyền phát hành, bản quyền, bằng sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, phần mềm máy vi tính, giấy phép nhượng quyền,… Theo quyền sở hữu Theo tiêu thức này TSCĐ được phân thành TSCĐ tự có và TSCĐ đi thuê. * TSCĐ tự có: Là những TSCĐ xây dựng, mua sắm hoặc chế tạo bằng nguồn vốn của doanh nghiệp, do ngân sách Nhà nước cấp, do đi vay của ngân hàng, bằng nguồn vốn tự bổ sung, nguồn vốn liên doanh,. * TSCĐ đi thuê lại được phân thành: - Tài sản cố định thuê tài chính: là những TSCĐ mà doanh nghiệp thuê của công ty cho thuê tài chính. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê tài chính.
Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng thuê tài chính ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng. - Tài sản cố định thuê hoạt động: Mọi TSCĐ đi thuê nếu không thoả mãn các quy định nêu trên được coi là tài sản cố định thuê hoạt động. Theo nguồn hình thành TSCĐ theo nguồn hình thành, cung cấp được các thông tin về cơ cấu nguồn vốn hình thành TSCĐ. Đứng trên phương diện này TSCĐ được chia thành: - TSCĐ được mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn được ngân sách cấp hoặc cấp trên cấp.
Sinh viên: Lê Thị Thúy 4 Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp - TSCĐ mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn tự bổ sung của doanh nghiệp (quỹ phát triển sản xuất, quỹ phúc lợi,. - TSCĐ nhận góp vốn liên doanh. Theo công dụng và tình hình sử dụng Đây là một hình thức phân loại rất hữu ích và tiện lợi cho việc phân bổ khấu hao vào tài khoản chi phí phù hợp. Theo tiêu thức này, TSCĐ được phân thành: - TSCĐ dùng trong sản xuất kinh doanh: Là những TSCĐ đang thực tế sử dụng, trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Những tài sản này bắt buộc phải trích khấu hao tính vào chi phí sản xuất kinh doanh. - TSCĐ dùng trong mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh quốc phòng: Là những TSCĐ do doanh nghiệp quản lý sử dụng cho các mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh quốc phòng trong doanh nghiệp. - TSCĐ chờ xử lý: Bao gồm các TSCĐ không cần dùng, chưa cần dùng vì thừa so với nhu cầu sử dụng hoặc không thích hợp với sự đổi mới quy trình công nghệ, bị hư hỏng chờ thanh lý, TSCĐ tranh chấp chờ giải quyết, những TSCĐ này cần xử lý nhanh chóng để thu hồi vốn sử dụng cho việc đầu tư đổi mới TSCĐ. - TSCĐ bảo quản, giữ hộ Nhà nước: Bao gồm những TSCĐ doanh nghiệp bảo quản hộ, giữ hộ cho đơn vị khác hoặc cất hộ nhà nước theo quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Đánh giá TSCĐ Đánh giá TSCĐ là xác định giá trị TSCĐ bằng tiền theo những nguyên tắc nhất định. TSCĐ được đánh giá lần đầu và có thể đánh giá lại trong quá trình sử dụng. TSCĐ được đánh giá theo ba chỉ tiêu là nguyên giá, giá trị hao mòn và giá trị còn lại. Nguyên giá TSCĐ.
Xác định nguyên giá tài sản cố định hữu hình: a) TSCĐ hữu hình mua sắm: Nguyên giá TSCĐ hữu hình mua sắm (kể cả mua mới và cũ): là giá mua thực tế phải trả cộng (+) các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại), các chi phí liên quan trực tiếp phải chi ra tính đến thời điểm đưa tài sản cố định vào trạng thái sẵn sàng sử dụng như: lãi tiền vay phát sinh trong quá trình đầu tư mua sắm tài sản cố định; chi phí vận chuyển, bốc dỡ; chi phí nâng cấp; chi phí lắp đặt, chạy thử; lệ phí trước bạ và các chi phí liên quan trực tiếp khác. Sinh viên: Lê Thị Thúy 5 Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp b) TSCĐ hữu hình mua theo hình thức trao đổi: Nguyên giá TSCĐ mua theo hình thức trao đổi với một TSCĐ hữu hình không tương tự hoặc tài sản khác là giá trị hợp lý của TSCĐ hữu hình nhận về, hoặc giá trị hợp lý của TSCĐ đem trao đổi (sau khi cộng thêm các khoản phải trả thêm hoặc trừ đi các khoản phải thu về) cộng (+) các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại), các chi phí liên quan trực tiếp phải chi ra đến thời điểm đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng, như: chi phí vận chuyển, bốc dỡ; chi phí nâng cấp; chi phí lắp đặt, chạy thử; lệ phí trước bạ (nếu có). c) Tài sản cố định hữu hình tự xây dựng hoặc tự sản xuất: Nguyên giá TSCĐ hữu hình tự xây dựng là giá trị quyết toán công trình khi đưa vào sử dụng. Trường hợp TSCĐ đã đưa vào sử dụng nhưng chưa thực hiện quyết toán thì doanh nghiệp hạch toán nguyên giá theo giá tạm tính và điều chỉnh sau khi quyết toán công trình hoàn thành.
Nguyên giá TSCĐ hữu hình tự sản xuất là giá thành thực tế của TSCĐ hữu hình cộng (+) các chi phí lắp đặt chạy thử, các chi phí khác trực tiếp liên quan tính đến thời điểm đưa TSCĐ hữu hình vào trạng thái sẵn sàng sử dụng (trừ các khoản lãi nội bộ, giá trị sản phẩm thu hồi được trong quá trình chạy thử, sản xuất thử, các chi phí không hợp lý như vật liệu lãng phí, lao động hoặc các khoản chi phí khác vượt quá định mức quy định trong xây dựng hoặc sản xuất). d) Nguyên giá tài sản cố định hữu hình do đầu tư xây dựng: Nguyên giá TSCĐ do đầu tư xây dựng cơ bản hình thành theo phương thức giao thầu là giá quyết toán công trình xây dựng theo quy định tại Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành cộng (+) lệ phí trước bạ, các chi phí liên quan trực tiếp khác.