LỜI MỞ ĐẦU Những năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới đã thu được những thành tựu to lớn trên các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội. Nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển tốt với nhịp độ tăng trưởng vững chắc. Khắc phục và ổn định tình hình an ninh, chính trị, trật tự xã hội. Do đó uy tín và vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.
Lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước ngày càng được củng cố. Thực hiện nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa và công cuộc đổi mới các doanh nghiệp, đó là chuyển dần các doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần. Điều đó đã chứng minh cho sự lựa chọn đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đây là đường lối, cơ chế để phát triển và tồn tại của nền kinh tế Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp nói riêng. Hoà nhập với sự đổi mới của đất nước, ngành Dược cũng có nhiều tiến bộ đáng kể trong khoa học kỹ thuật, trong quản lý và hoạt đông sản xuất kinh doanh, chiếm lĩnh thị trường, đảm bảo cung cấp đầy đủ thuốc, hoá chất, máy móc, thiết bị y tế để phục vụ công tác phòng bệnh, chữa bệnh cho nhân dân, góp phần tích cực trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân theo tinh thần nghị quyết IV của Ban chấp hàng TW Đảng để thực hiện tốt nhiệm vụ, vai trò của Nhà nước trong việc tổ chức quản lý, hoạt động sản xuất kinh doanh về thuốc, thiết bị, dụng cụ y tế trên thị trường lại càng có ý nghĩa quan trọng đặc biệt.
Do đó hạch toán kế toán có vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý kinh doanh, là công cụ quan trọng phục vụ điều hành và quản lý các hoạt động trong các đơn vị, điều hành và quản lý nền kinh tế quốc dân. Để đáp ứng yêu cầu của cơ chế quản lý kinh tế mới và cơ chế thị trường hiện nay hoàn thiện công tác kế toán tài sản cố định và khấu hao tài sản cố định trong các doanh nghiệp là đòi hỏi cấp bách trong giai đoạn đổi mới cơ chế quản lý nhằm tự chủ về tài chính, về vấn đề sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế. TSCĐ là một trong 3 yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh, là cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp, phản ánh năng lực sản xuất hiện có, tiến bộ khoa học kỹ thuật của doanh nghiệp. TSCĐ đặc biệt là máy móc, thiết bị sản xuất, là điều kiện quan trọng và cần thiết để tăng sản lượng, năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm… Bởi vậy việc phân tích tình hình sử dụng TSCĐ để có biện pháp sử dụng triệt để về số lượng, thời gian và công suất của máy móc, thiết bị sản xuất và TSCĐ khác là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Xuất phát từ ý nghĩa và tầm quan trọng của tài sản cố định, đổi mới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, với mong muốn đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận của công tác kế toán tài sản cố định gắn liền với thực trạng việc tổ chức kế toán tài sản cố định tại Công ty Cổ phần Dược phẩm Nam Hà. Nhằm củng cố cho bản thân các kiến thức đã 1 Sinh viên : Phạm Thị Hạnh BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP tiếp thu trong quá trình học tập đồng thời trang bị thêm kiến thức thực tiễn đầy sinh động, trên cơ sở đó nêu ra những điểm chưa đồng nhất giữa lý luận với thực tiễn, những chính sách, chế độ thiếu đồng bộ, chưa phù hợp, những sai sót vi phạm trong việc hoàn thiện công tác kế toán TSCĐ tại đơn vị. Do đó tôi đã lựa chọn và trình bày chuyên đề: “Hoàn thiện công tác kế toán tài sản cố định và khấu hao tài sản cố định tại công ty Cổ phần dược phẩm Nam Hà” Chuyên đề gồm 3 phần lớn: Phần I: Cơ sở lý luận về công tác kế toán TSCĐ và khấu hao TSCĐ tại công ty cổ phần dược phẩm Nam Hà Phần II: Thực trạng công tác kế toán tài sản cố định và khấu hao tài sản cố định tại Công ty Cổ phần Dược phẩm Nam Hà Phần III: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán tài sản cố định và khấu hao tài sản cố định tại công ty Cổ phần Dược phẩm Nam Hà. Trong thời gian thực tập tại công ty với sự giúp đỡ của nhân viên phòng kế toán tài vụ và các phòng ban chức năng khác của công ty, và vận dụng kiến thức trong quá trình học tập tại trường, em đã lựa chọn trình bày chuyên đề này.
Trong khi trình bày không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, em rất mong được sự thông cảm của các thầy cô giáo cũng như Công ty Cổ phần Dược phẩm Nam Hà. Em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của KTV Trần Mạnh Dũng đã hướng dẫn và tạo điều kiện để em hoàn thành chuyên đề của mình. 2 Sinh viên : Phạm Thị Hạnh BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP PHẦN I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VÀ KHẤU HAO TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TẠI DOANH NGHIỆP I/ KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH 1. Khái niệm TSCĐ là những tư liệu lao động cơ bản và các tài sản khác có gía trị tương đối lớn và thời gian sử dụng tương đối dài.
Theo chế độ kế toán hiện hành tài sản cố định phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây. Thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng chính tài sản cố định đó. Nguyên giá phải xác định một cách chắc chắn đáng tin cậy, giá trị phải lớn hơn 5 triệu đồng, thời gian sử dụng phải lớn hơn 1 năm 2. Đặc diểm và yêu cầu quản lý TSCĐ ở doanh nghiệp có nhiều loại, mỗi loại đều có đặc điểm và yêu cầu quản lý khác nhau.
Nhưng đều giống nhau ở giá trị ban đầu và thời gian thu hồi vốn trên một năm. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội và sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, TSCĐ trong nền kinh tế quốc dân và trong các doanh nghiệp không ngừng được đổi mới, hiện đại hoá và tăng lên nhanh chóng góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Điều đó đặt ra cho công tác quản lý TSCĐ những yêu cầu ngày càng cao. Xuất phát từ các đặc điểm của nó, TSCĐ phải được quản lý chặt chẽ về hiện vật và giá trị.
Về mặt hiện vật thì phải được kiểm tra chặt chẽ tình hình hao mòn, việc thu hồi vốn đầu tư ban đầu để tái sản xuất kinh doanh. Nhiệm vụ của kế toán tài sản cố định - Ghi chép phản ánh chính xác, kịp thời số lượng giá trị TSCĐ hiện có, tình hình tăng giảm và hiện trạng của TSCĐ trong toàn đơn vị. - Tính toán và phân bổ chính xác mức khấu hao TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh phù hợp với mức độ hao mòn TSCĐ được quy định trong chế độ. - Tham gia lập kế hoạch sửa chữa và dự toán chi phí sửa chữa TSCĐ giám sát việc sửa chữa TSCĐ về chi phí và kết quả của công việc sửa chữa - Tính toán và phản ánh kịp thời, chính xác tình hình xây dựng trang bị thêm, đổi mới hoặc dỡ bớt một số bộ phận của TSCĐ làm thay đổi nguyên giá TSCĐ cũng như tình hình thanh lý nhượng bán TSCĐ.
II/PHÂN LOẠI TÀI SẢN CỐ ĐỊNH Do TSCĐ trong doanh nghiệp có nhiều loại hình thái biểu hiện, tính chất đầu tư công dụng và tình hình sử dụng khác nhau… nên để thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán TSCĐ theo nhiều tiêu thức khác nhau. Phân loại Tài sản cố định theo hình thái biểu hiện 3 Sinh viên : Phạm Thị Hạnh BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP Theo cách phân loại này TSCĐ được chia làm 3 loại - Tài sản cố định hữu hình (TK 211) - Tài sản cố định vô hình (TK 213) - Tài sản cố định thuê tài chính (TK212) Trong đó: TCSĐ hưũ hình là những tư liệu lao động có hình thái vật chất đủ tiêu chuẩn về giá trị và thời gian sử dụng theo quy định trong chế độ tài chính hiện hành của Nhà nước như: nhà xưởng, máy móc thiết bị, vật kiến trúc… TSCĐ vô hình là những TSCĐ không có hình thái vật chất thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư chi trả, hoặc chi phí bỏ ra để có các lợi ích hoặc các nguồn có tính kinh tế mà giá trị của chúng xuất phát từ các đặc quyền của doanh nghiệp như: quyền sử dụng đất, quyền phát hành… TSCĐ thuê tài chính là những tài sản mà doanh nghiệp thuê của công ty cho thuê tài chính. Cách phân loại này là cơ sở quan trọng để xây dựng các quyết định đầu tư phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp. Phân loại tài sản cố định theo quyền sở hữu Căn cứ vào quyền sở hữu TSCĐ của doanh nghiệp được chia làm 2 loại: - TSCĐ tự có: là các tài sản được mua sắm và hình thành từ nguồn vốn ngân sách cấp hoặc cấp trên, nguồn vốn vay, nguồn vốn liên doanh của các quỹ tự có của doanh nghiệp - TSCĐ thuê ngoài: là TSCĐ đi thuê để sử dụng trong một thời gian nhất định theo một hợp đồng đã ký kết.
Cách phân loại này giúp cho việc quản lý và tổ chức hạch toán TSCĐ được chặt chẽ chính xác thúc đẩy việc sử dụng TSCĐ có hiệu quả cao nhất. Phân loại tài sản cố định theo nguồn hình thành - TSCĐ mua sắm xây dựng bằng vốn được cấp (ngân sách hoặc cấp trên) - TSCĐ mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn tự bổ sung của đơn vị (quỹ phát triển sản xuất, quỹ phúc lợi) - TSCĐ nhận góp liên doanh bằng hiện vật.