đặt vấn đề tín nhiệm hay không tín nhiệm từ đó có thể dẫn tới sự từ chức Chính phủ. Hay tác giả Trương Thị Hồng Hà trong cuốn sách Hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam trong cơ chế giám sát quyền lực nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, 2016 cũng khẳng định chất vấn là một hình thức có tính chất kiểm soát quyền lực nhà nước "Chất vấn là hình thức giám sát quyền lực nhà nước đặc biệt do Quốc hội là cơ quan được hiến định về hình thức chất vấn đối với các đối tượng giám sát cụ thể tiến hành, nên chất vấn được coi là một trong các công cụ giám sát thông dụng và hữu hiệu nhất của Quốc hội. Chất vấn có mục đích chính trị - pháp lý rõ ràng là làm rõ trách nhiệm chính trị của người được chất vấn. Chính vì vậy, chất vấn là hoạt động có tính chất kiểm soát quyền lực".
Như vậy, tác giả cho rằng chất vấn có tính chất kiểm soát quyền lực nhà nước vì mục đích của nó là làm rõ trách nhiệm chính trị của đối tượng bị chất vấn. Một số công trình đã đi sâu làm rõ khái niệm chất vấn như Nguyễn Đăng Dung trong công trình Quốc hội Việt Nam trong nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2007, đã phân tích khái niệm chất vấn, làm rõ mục đích của chất vấn chính là quy trách nhiệm chính trị của những người đứng đầu bộ máy Nhà nước trong tổ chức thực thi pháp luật, Hiến pháp của Quốc hội. Tác giả Trần Quốc Việt trong bài viết "Chất vấn 21 hình thức kiểm soát hiệu quả của Quốc hội đối với Chính phủ", Tạp chí Quản lý nhà nước, (2), năm 2016 cũng đã phân biệt chất vấn với hỏi buộc trả lời và điều trần. Một số công trình đi vào phân tích những thành tựu và hạn chế trong hoạt động chất vấn của Quốc hội như Lê Thanh Vân, ''Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá XII'', Tạp chí Tuyên giáo, (12) năm 2007; Trần Văn Tám với bài ''Đổi mới hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn'', Tạp chí Tuyên giáo, (1), năm 2012; Đinh Xuân Thảo "Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội'', Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (5) năm 2010; Phạm Duy Nghĩa ''Hoạt động chất vấn từ góc nhìn của cử tri'', Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (15), năm 2010; Nguyễn Thị Kim Chung, Nguyễn Thị Hồng, ''Sửa đổi Hiến pháp về tổ chức và hoạt động của Quốc hội - nhìn từ hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội'', Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (15), năm 2012; Ngô Đức Mạnh "Đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy trình, thủ tục chất vấn tại kỳ họp của Quốc hội, phiên họp của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội'', Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (3+ 4), năm 2015; Bùi Ngọc Thanh "Hoạt động chất vấn của Quốc hội theo tinh thần Hiến pháp năm 2013", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (18), năm 2015; Trần Quốc Việt, ''Chất vấn hình thức kiểm soát hiệu quả của Quốc hội đối với Chính phủ'', Tạp chí Quản lý nhà nước, (2), năm 2016; Trương Thị Hồng Hà, Hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam trong cơ chế giám sát quyền lực nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, 2016… Các công trình này khi đánh giá thực trạng có thể tiếp cận ở nhiều lát cắt khác nhau như có công trình đánh giá thực trạng theo nội dung người chất vấn, người trả lời chất vấn, việc điều hành hoạt động chất vấn, có công trình đánh giá thực trạng theo các nội dung như mục đích, nội dung, phương pháp, thủ tục, quy trình, hình thức hậu quả pháp lý… của chất vấn.
Tuy nhiên, nhìn chung các công trình đều thống nhất ở một số thành tựu và hạn chế trong hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội. Ví 22 dụ như người chất vấn đã thực hiện chất vấn đúng mục đích, không phải hỏi lấy thông tin, câu hỏi ngắn gọn, súc tích hơn, người trả lời chất vấn cũng trả lời ngắn gọn, thẳng thắn nhận trách nhiệm, việc điều hành chất vấn có nhiều đổi mới theo hướng tích cực, Quốc hội cũng đã ra nghị quyết về chất vấn… Tuy nhiên, các tác giả cũng chỉ ra một số hạn chế trong thực hiện hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội như hệ thống cơ sở pháp lý, quy trình, thủ tục cho hoạt động chất vấn còn nhiều bất cập, bất cập về năng lực, bản lĩnh của đại biểu Quốc hội trong thực hiện hoạt động chất vấn, chưa thực sự truy đến cùng trong chất vấn, tính tranh luận, phản biện trong chất vấn chưa thật cao, hậu quả pháp lý cho hoạt động chất vấn chưa cao, việc theo dõi lời hứa trong hoạt động chất vấn còn nhiều hạn chế, người trả lời chất vấn còn vòng vo, né tránh… Từ việc đánh giá thực trạng hoạt động chất vấn, các tác giả cũng khẳng định những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động chất vấn đó là cơ sở pháp lý, là năng lực, bản lĩnh của đại biểu Quốc hội, là các phương tiện và cơ quan tham mưu phục vụ cho hoạt động chất vấn của đại biểu đặc biệt là cung cấp thông tin… Từ đó các tác giả đều nêu ra các giải pháp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua hoạt động chất vấn như hoàn thiện cơ sở pháp lý, quy trình thủ tục, tiếp tục đổi mới hoạt động điều hành chất vấn, nâng cao năng lực cho đại biểu Quốc hội trong thực hiện hoạt động chất vấn, nâng cao ý thức trách nhiệm của người trả lời chất vấn… Một số công trình đề cập kỹ năng thực hiện chất vấn của đại biểu Quốc hội, như là một yếu tố làm nên hiệu quả hoạt động chất vấn nói riêng, hoạt động giám sát nói chung. Tác giả Lê Thanh Vân trong bài viết "Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá XII", Tạp chí Tuyên giáo, (12), năm 2007 đã phân tích các kỹ năng chất vấn của đại biểu Quốc hội bao gồm kỹ năng đặt câu hỏi và trình bày câu hỏi chất vấn, kỹ năng tranh luận; kỹ năng phân tích chính sách; kỹ năng tạo sức ép dư luận đối với vấn đề chất vấn; kỹ năng giám sát việc thực hiện các vấn đề đã được làm sáng 23 tỏ tại phiên chất vấn. Tác giả Trần Quốc Việt trong bài viết "Chất vấn hình thức kiểm soát hiệu quả của Quốc hội đối với Chính phủ", Tạp chí Quản lý nhà nước, (2), năm 2016 cho rằng kỹ năng chất vấn của đại biểu thể hiện ở nội dung chất vấn, thời gian tuân thủ, thái độ, chất vấn, câu hỏi chất vấn… 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO TÁC GIẢ LUẬN ÁN CẦN PHẢI TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU, GIẢI QUYẾT Trên cơ sở tổng quan các công trình có liên quan đến đề tài, có thể thấy rằng các công trình đã đề cập, phân tích được những vấn đề sau: - Các công trình đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của kiểm soát quyền lực nhà nước như khái niệm, mục đích, tính tất yếu, sự cần thiết, các hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước… - Các công trình đã phân tích chỉ rõ các hình thức giám sát của Quốc hội Việt Nam, đánh giá thực trạng thực hiện quyền giám sát của Quốc hội cũng như các giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát của Quốc hội. - Một số công trình đã nhận thấy giám sát của Quốc hội chính là phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên trong, trong hoạt động giám sát đó, đã chỉ ra chất vấn là hình thức giám sát nổi bật nhất, có hiệu quả nhất của Quốc hội Việt Nam hiện nay và bước đầu chỉ ra đây là hoạt động mang tính kiểm soát quyền lực nhà nước. - Các công trình đã bước đấu đánh giá thực trạng hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội như là một trong các hình thức giám sát của Quốc hội và đề xuất các giải pháp hoàn thiện. - Các công trình nghiên cứu đi trước cũng đã đề cập đến kinh nghiệm chất vấn và hoạt động chất vấn của nghị sĩ các nước trên thế giới.
Mặc dù chưa nhiều, nhưng gần đây đã có một số công trình đã chú ý hơn đến hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội tại kỳ họp. Tuy nhiên, những tài liệu được tiếp cận, cho thấy hầu hết những công trình này đã tập trung nghiên cứu về quy định pháp luật liên quan đến hoạt động chất vấn, 24 thực trạng thực hiện hoạt động chất vấn cũng như giải pháp hoàn thiện, dưới góc độ pháp lý, mà chưa làm rõ chất vấn tại kỳ họp Quốc hội như là một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước. Khảo cứu những công trình khoa học trên cho thấy, cho đến nay, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội vẫn là vấn đề cần được nghiên cứu sâu sắc và toàn diện cả về mặt lý luận và thực tiễn. Chúng tôi xác định những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu bao gồm: Thứ nhất, chất vấn với tư cách là một hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước được thể hiện như thế nào, so với các hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước khác, chất vấn có những ưu điểm gì? Thứ hai, nghiên cứu thực trạng kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội trong thời gian qua, đang đặt ra vấn đề gì? Thứ ba, đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước của hoạt động chất vấn.
Qua nghiên cứu các công trình khoa học có liên quan, chúng tôi khẳng định đề tài mà chúng tôi lựa chọn không trùng lắp với bất kỳ một công trình nghiên cứu nào khác đã được công bố. Đề tài được triển khai thành công, sẽ có những đóng góp mới, đưa thêm một góc nhìn mới về hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội, đó là tiếp cận chất vấn như là một hình thức quan trọng trong, hiệu quả trong các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước hiện nay ở nước ta. Từ đó đề tài góp phần hoàn thiện vào cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước nói chung, kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên trong nói riêng ở Việt Nam hiện nay. 25 Chƣơng 2 KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƢỚC THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.