phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo nội dung của Luận văn gồm 4 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng trong NHTM; - Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu; - Chƣơng 3: Thực trạng tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Nhị Chiểu; - Chƣơng 4: Các giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ hoạt động Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 4 tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Nhị Chiểu. Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ 1. Kiểm soát nội bộ 1.
Khái niệm kiểm soát nội bộ Có nhiều tổ chức khác nhau đƣa ra các quan niệm về Kiểm soát nội bộ, hệ thống kiểm soát nội bộ: Uỷ ban chuẩn mực kiểm toán quốc tế (The International Auditing and Assuarance Standards Board - IAASB) đƣa ra khái niệm: “Kiểm soát nội bộ là toàn bộ các biện pháp kiểm tra, kế toán hoặc các biện pháp khác do Ban Giám Đốc chịu trách nhiệm xây dựng, áp dụng và giám sát nhằm mục đích bảo vệ tài sản của doanh nghiệp, tính tin cậy của các ghi chép kế toán và của các báo cáo tài chính năm đƣợc lập trên cơ sở các ghi chép đó, việc tuân thủ các quy chế và thủ tục hiện hành và việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp” (ISA, 2009). Viện kiểm toán độc lập Hoa Kỳ (American Institute of Certificated Public Accountant- AICPA) đƣa ra khái niệm về kiểm soát nội bộ nhƣ sau: “Kiểm soát nội bộ bao gồm kế hoạch của tổ chức và tất cả các phƣơng pháp phối hợp và đo lƣờng đƣợc thừa nhận trong doanh nghiệp để bảo đảm an toàn tài sản có của họ, kiểm tra sự phù hợp và độ tin cậy của dữ liệu kế toán, tăng cƣờng tính hiệu quả của hoạt động và khuyến khích việc thực hiện các chính sách quản lý lâu dài” (AICPA). Theo Liên đoàn kế toán quốc tế (The International Federation of Accountant- IFAC) thì: “Hệ thống kiểm soát nội bộ là kế hoạch của đơn vị và toàn bộ các phƣơng pháp, các bƣớc công việc mà các nhà quản lý doanh nghiệp tuân theo. Hệ thống kiểm soát nội bộ trợ giúp cho các nhà quản lý đạt đƣợc mục tiêu một cách chắc chắn theo trình tự và kinh doanh có hiệu quả kể cả việc tôn trọng các quy chế quản lý; giữ an toàn cho tài sản, ngăn chặn, phát hiện sai phạm và gian lận; ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác, lập báo cáo tài chính kịp thời, đáng tin cậy” (IFCA).
Theo định nghĩa của Viện kiểm toán nội bộ quốc tế (Institute of Internal Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 Audit - IIA): “Hệ thống kiểm soát nội bộ của Ngân hàng là tập hợp bao gồm các chính sách, quy trình, quy định nội bộ, các thông lệ, cơ cấu tổ chức của ngân hàng, đƣợc thiết lập và đƣợc tổ chức thực hiện nhằm đạt đƣợc các mục tiêu của ngân hàng và đảm bảo phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các rủi ro xảy ra” (IIA). Báo cáo COSO (Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission) năm 1992 đƣa ra khái niệm nhƣ sau: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình do ngƣời quản lý, hội đồng quản trị, các nhân viên của đơn vị chi phối, nó đƣợc thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu dƣới đây: Báo cáo tài chính đáng tin cậy; Các luật lệ và qui định đƣợc tuân thủ; Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả.” (Báo cáo COSO, 1992) Ngày 29/12/2013 Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam đã ban hành thông tƣ số 44/2013/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài, hiệu lực thực hiện từ ngày 12/02/2012. Theo đó, hệ thống KSNB đƣợc hiểu là “tập hợp các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài đƣợc xây dựng phù hợp theo quy định tại Thông tƣ này và đƣợc tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt đƣợc yêu cầu đề ra” (Thông tƣ 44/2013/TT-NHNN, 2013). Qua các khái niệm trên có thể nhận thấy những đặc điểm nổi bật của hệ thống kiểm soát nội bộ là: - Kiểm soát nội bộ là một chuỗi các hoạt động kiểm soát tồn tại ở mọi bộ phận trong doanh nghiệp và đƣợc kết hợp với nhau thành một thể thống nhất.
Nó là phƣơng tiện giúp doanh nghiệp đạt đƣợc các mục tiêu. - Kiểm soát nội bộ không chỉ đơn thuần là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu… mà còn bao gồm những con ngƣời trong tổ chức. Chính con ngƣời định ra mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát và vận hành chúng. - Kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý chứ không đảm bảo tuyệt đối các mục tiêu đƣợc thực hiện.
Trong quá trình vận hành, hệ thống kiểm soát có thể tồn tại yếu kém, những sai lầm của con ngƣời dẫn đến mục tiêu không đƣợc thực hiện. Kiểm soát nội bộ chỉ có thể ngăn ngừa và phát hiện những sai sót nhƣng không thể đảm bảo là chúng không xẩy ra. Hơn nữa, một trong những nguyên tắc cơ bản để quyết định trong quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không đƣợc vƣợt quá lợi ích mong đợi từ quá trình kiểm soát đó. Do vậy, ngƣời Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 quản lý có thể nhận thức đƣợc mọi rủi ro nhƣng nếu chi phí cho quá trình kiểm soát quá lớn thì không thể áp dụng các thủ tục kiểm soát.
Các bộ phận cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ Dù đặc điểm hoạt động của mỗi tổ chức có khác nhau thì vẫn có 05 bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ, bao gồm: * Môi trường kiểm soát Môi trƣờng kiểm soát tạo ra sắc thái chung của một tổ chức, thông qua việc chi phối ý thức kiểm soát của các thành viên. Môi trƣờng kiểm soát là nền tảng cho tất cả các thành phần khác của kiểm soát nội bộ. Những nhân tố của môi trƣờng kiểm soát đƣợc ghi nhận bởi báo cáo COSO 1992 gồm có: a. Triết lý quản lý và phong cách điều hành Triết lý quản lý thể hiện qua quan điểm và nhận thức của nhà quản lý.
Phong cách điều hành thể hiện qua cá tính, tƣ cách và thái độ của nhà quản lý khi điều hành doanh nghiệp. Tiêu chí để đánh giá các nhân tố này bao gồm: Mức độ rủi ro kinh doanh mà nhà quản lý có thể chấp nhận - mạo hiểm hay thận trọng. Sự tiếp xúc giữa nhà quản trị cấp cao và ngƣời quản lý điều hành. Thái độ và hành động đối với việc lập báo cáo tài chính bao gồm những khuynh hƣớng khác nhau trong kế toán, áp dụng những nguyên tắc kế toán, mức độ khai báo thông tin trên báo cáo tài chính và kể cả quan điểm về gian lận và giả mạo chứng từ sổ sách.
Cơ cấu tổ chức Cơ cấu tổ chức là việc thiết lập bộ máy thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Cơ cấu tổ chức giúp cung cấp khuôn khổ trong đó hoạt động của tổ chức đƣợc lập kế hoạch, thực hiện, kiểm soát và giám sát. Cơ cấu tổ chức cần xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm chủ yếu đối với từng hoạt động, xác định cấp bậc cần báo cáo thích hợp. Cơ cấu tổ chức khác nhau tùy theo quy mô và đặc điểm của tổ chức.
Cơ cấu tổ chức thúc đẩy hoặc hạn chế việc thực hiện các hoạt động kiểm soát. Các tiêu chí để đánh giá cho nhân tố này bao gồm: Sự thích hợp của cơ cấu tổ chức trong doanh nghiệp và khả năng cung cấp Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 thông tin cần thiết của nhà quản lý. Mức độ phù hợp giữa trách nhiệm theo cơ cấu tổ chức với nhận thức của những ngƣời quản lý về nhiệm vụ đó. Khả năng đáp ứng về kiến thức, kinh nghiệm đối với nhiệm vụ đƣợc giao của các nhà quản lý.
Phương pháp phân chia quyền hạn và trách nhiệm Phƣơng pháp phân chia quyền hạn và trách nhiệm là mức độ giao quyền từ trên xuống của hệ thống tổ chức, là việc xác định mức độ tự chủ, quyền hạn của từng cá nhân hay từng nhóm trong việc đề xuất và giải quyết vấn đề, trách nhiệm báo cáo với các cấp có liên quan. Quyền hạn đƣợc giao tƣơng xứng với trách nhiệm và năng lực của từng thành viên. Mỗi ngƣời phải hiểu đƣợc công việc cụ thể họ sẽ phụ trách và nó ảnh hƣởng đến ngƣời khác nhƣ thế nào trong việc góp phần hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp. Để phân chia quyền hạn và trách nhiệm phù hợp cần dựa vào các tiêu chí sau đây: Phù hợp với mục tiêu của tổ chức, chức năng hoạt động, yêu cầu trách nhiệm về hệ thống thông tin và quyền hạn thay đổi.
Phù hợp với các tiêu chuẩn và thủ tục kiểm soát. Sự tƣơng xứng giữa số lƣợng, năng lực của các thành viên, với mức độ công việc và quy mô của doanh nghiệp. Cam kết về năng lực Cam kết về năng lực là việc ngƣời quản lý đặt yêu cầu các nhân viên đủ năng lực cho công việc đƣợc giao. Yếu tố này giúp đáp ứng mục tiêu kiểm soát nội bộ, đảm bảo thực hiện các yêu cầu của thủ tục kiểm soát.
Vì vậy cam kết về năng lực cần đƣợc cụ thể hóa thành các yêu cầu về kiến thức và kỹ năng cho mỗi công việc cụ thể và cần cân bằng giữa chi phí và lợi ích. Tiêu chí đánh giá nhân tố này: Mọi công việc cụ thể trong tổ chức phải có bảng mô tả các tác vụ một cách rõ ràng. Bảng mô tả này có thể dƣới dạng một bảng mô tả công việc hoặc dƣới một hình thức khác. Mỗi công việc cần phải đƣợc phân tích về yêu cầu đối với kiến thức và Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 9 kỹ năng.
Chính sách nhân sự Chính sách nhân sự là các chính sách và các qui định liên quan đến việc tuyển dụng, huấn luyện, đánh giá, bổ nhiệm, khen thƣởng hay kỷ luật nhân viên.