phần mở đầu và kết luận, luận văn kết cấu gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ nghiệp vụ tín dụng trong ngân hàng thƣơng mại 10 Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ nghiệp vụ tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp Lào Chƣơng 3: Giải pháp nh m hoàn thiện kiểm soát nội bộ nghiệp vụ tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp Lào 11 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. L luận về iểm soát n i 1. Khái niệm, b n chất của kiểm soát nội bộ 1. n m Từ đầu thế k 20 đã bắt đầu xuất hiện khái niệm về KSNB với ý nghĩa hết sức đơn giản là các biện pháp bảo vệ tiền không bị biển thủ, sau đó đƣợc mở rộng ra việc ghi ch p kế toán chính xác, nâng cao hiệu quả hoạt động, tuân thủ chính sách của nhà quản lý.
Tiếp đó mỗi quốc gia, mỗi hiệp hội, t chức lại đƣa ra các khái niệm về KSNB riêng. Theo Liên đoàn kế toán quốc tế IFAC) thì: “Hệ thống kiểm soát nội bộ là kế hoạch của đơn vị và toàn bộ các phƣơng pháp, các bƣớc công việc mà các nhà quản lý doanh nghiệp tuân theo. Hệ thống Kiểm soát nội bộ trợ giúp cho các nhà quản lý đạt đƣợc mục tiêu một cách chắc chắn theo trình tự và kinh doanh có hiệu quả kể cả việc tôn trọng các quy chế quản lý; giữ an toàn tài sản, ngăn chặn, phát hiện sai phạm và gian lận; ghi ch p kế toán đầy đủ, chính xác, lập BCTC kịp thời, đáng tin cậy”. Viện kiểm toán độc lập Hoa Kỳ AICPA) định nghĩa kiểm soát nội bộ nhƣ sau: “Kiểm soát nội bộ bao gồm kế hoạch của t chức và tất cả các phƣơng pháp phối hợp và đo lƣờng đƣợc thừa nhận trong doanh nghiệp để bảo đảm an toàn tài sản có của họ, kiểm tra sự phù hợp và độ tin cậy của dữ liệu kế toán, tăng cƣờng tính hiệu quả của hoạt động và khuyến khích việc thực hiện các chính sách quản lý lâu dài”.
Theo chuẩn mực Kiểm toán quốc tế ISA) thì: Kiểm soát nội bộ: Là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt đƣợc mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, 12 đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan. Thuật ngữ “kiểm soát” đƣợc hiểu là bất cứ khía cạnh nào của một hoặc nhiều thành phần của kiểm soát nội bộ. COSO: Là một ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận trong BCTC - Treadway Commission. Ủy ban này bao gồm đại diện của hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ AICPA), Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ IIA), Hiệp hội quản trị viên tài chính FEI), Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ AAA), Hiệp hội kế toán viên quản trị IMA) năm 1992, đƣa ra báo cáo đầu tiên về KSNB, cung cấp hệ thống lý luận đầy đủ nhất về KSNB trở thành chuẩn mực đƣợc công nhận và áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới.
Theo COSO, Kiểm soát nội bộ là một quy trình chịu ảnh hƣởng bởi HĐQT, các nhà quản lý và các nhân viên khác của một t chức, đƣợc thiết kế để cung cấp một sự bảo đảm hợp lý trong việc thực hiện các mục tiêu sau: Hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động; Tính chất đáng tin cậy của BCTC; Sự tuân thủ các luật lệ và quy định hiện hành. Trong đó: Kiểm tra kiểm soát nội bộ là một quá trình, bởi: Hệ thống kiểm soát nội bộ không chỉ là một thủ tục hay một chính sách đƣợc thực hiện ở một vài thời điểm nhất định mà đƣợc vận hành liên tục ở tất cả mọi cấp độ trong doanh nghiệp. Kiểm soát nội bộ đƣợc thiết kế và vận hành bởi con ngƣời: Vì Kiểm soát nội bộ không chỉ là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu đơn điệu, độc lập, mà phải bao gồm cả yếu tố con ngƣời - HĐQT, BGĐ, nhân viên của t chức. Chính con ngƣời định ra mục tiêu kiểm soát và thiết lập nên cơ chế kiểm soát và vận hành chúng.
HĐQT và các nhà quản trị cấp cao chịu trách nhiệm cho việc thiết lập một văn hóa phù hợp nh m hỗ trợ cho quy trình KSNB hiệu quả, giám sát tính hiệu quả của hệ thống này một cách liên tục. Tất cả các thành viên của t chức đều tham gia vào quy trình này. Không thể yêu cầu tuyệt đối thực hiện đƣợc các mục tiêu đối với 13 Kiểm soát nội bộ mà chỉ có thể yêu cầu cung cấp một sự đảm bảo hợp lý trong việc thực hiện mục tiêu. Nguyên nhân bởi luôn có khả năng tồn tại những yếu k m xuất phát từ sai lầm của con ngƣời khi vận hành hệ thống kiểm soát, dẫn đến việc không thực hiện đƣợc mục tiêu.
Việc kiểm soát nội bộ có thể làm là ngăn chặn và phát hiện sai phạm nhƣng không thể đảm bảo chắc chắn sẽ không xảy ra sai phạm nữa. Bên cạnh đó, quyết định của kiểm soát nội bộ c n tùy thuộc vào nguyên tắc cơ bản: sự đánh đ i lợi ích - chi phí, chi phí kiểm soát không đƣợc vƣợt quá lợi ích mong đợi từ quá trình kiểm soát. Vì vậy, kiểm soát nội bộ chỉ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý, chứ không đảm bảo tuyệt đối là các mục tiêu sẽ đƣợc thực hiện. Tại Lào, theo Luật kế toán 2013: “Kiểm soát nội bộ là cơ chế t chức phân công, xác định phạm vi quyền, nhiệm vụ, cách thức thực hiện và sự phối hợp nh m thực hiện công việc phù hợp với chiến lƣợc và mục đích của đơn vị kế toán, hiệu quả, có thông tin kế toán và báo cáo tài chính trung thực, hợp lý, đáng tin cậy và kịp thời.
Đơn vị kế toán phải xác định hệ thống kiểm soát nội bộ theo nguyên tắc chung của hệ thống kiểm soát nội bộ để thực hiện công việc kế toán của đơn vị đúng theo chuẩn mực BCTC, quy định kế toán và Luật kế toán”. Tại Lào, theo Luật kế toán 2013, Nguyên tắc chung của KSNB: Bố trí hệ thống t chức nội bộ đảm bảo quản lý rủi ro ở mức độ có thể quản lý đƣợc; Xác định rủi ro để có thể xác định biện pháp và chính sách quản lý rủi ro; Đánh giá rủi ro để xác định biện pháp ngăn chặn rủi ro xảy ra hoặc ít xảy ra; Lựa chọn biện pháp phù hợp để ứng phó với rủi ro ở mức độ có thể chấp nhận đƣợc nhƣ tránh rủi ro xảy ra, giảm thiểu rủi ro, chia phần rủi ro và chấp nhận rủi ro; Đặt chính sách, biện pháp và quy định thực hiện để có thể giảm thiểu rủi ro và thực hiện vào mỗi khâu công việc; 14 Lập hệ thống thông tin và truyền thông có hiệu quả để có thể thực hiện công việc quan trọng đạt đƣợc mục tiêu xác định; Giám sát, đánh giá để đảm bảo hệ thống kiểm soát nội bộ đã xác định có hiệu quả. Vannasouk Phoutthapan 2020) trong giáo trình Kiểm soát nội bộ đã nghiên cứu về KSNB dựa trên năm bộ phận cấu thành KSNB theo báo cáo COSO 2013 và đã kết luận về KSNB nhƣ sau: KSNB là hệ thống hoặc quy trình phải thực hiện; KSNB tốt hay không thuộc với con ngƣời đó là nhà quản trị và tất cả các nhân sự thực hiện công việc tại đơn vị nhƣng bộ phận quản trị là yếu tố quan trọng trong việc lập không khí kiểm soát lành mạnh; Coi trọng KSNB về tính chính trực và giá trị đạo đức và phẩm chất nhân sự đó là kiểm soát tạo ra ý thức nhiều hơn kiểm soát đƣợc xác định theo văn bản; KSNB tốt không phải là sự đảm bảo cho đơn vị chấm dứt ảnh hƣởng từ thiệt hại hoặc rủi ro mà chỉ có thể giúp cho đơn vị một phần sự tin tƣởng tƣơng đối hiệu quả; Hoạt động KSNB một hoạt động có thể đáp ứng đƣợc một hoặc nhiều mục tiêu; Giám sát là thành phần quan trọng không thể thiếu trong bộ phần cấu thành KSNB, nếu thiếu việc giám sát thì có thể nói hệ thống KSNB chƣa hoàn thiện, nhà quản trị và kiểm toán viên nội bộ là ngƣời có trách nhiệm trong việc giám sát. Bản c ất của t ốn k m so t n Từ những khái niệm nêu trên về hệ thống kiểm soát nội bộ có thể rút ra: Hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống chính sách và thủ tục đƣợc thiết lập nh m đạt đƣợc các mục tiêu sau: Bảo vệ tài sản của đơn vị, bảo đảm độ tin cậy của các thông tin, bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý và bảo 15 đảm hiệu quả của các hoạt động.
Theo đó hệ thống kiểm soát nội bộ trong một doanh nghiệp sẽ bao gồm hai phần: Phần thứ nhất là các cơ chế kiểm soát nội bộ bao gồm toàn bộ các cơ chế nghiệp vụ; các quy trình; các quy chế nghiệp vụ cộng với một cơ cấu t chức sắp xếp, phân công phân nhiệm phân cấp, ủy quyền v.) nh m làm cho hoạt động của doanh nghiệp đƣợc hiệu quả, an toàn. Phần thứ hai của hệ thống kiểm soát nội bộ chính là cán bộ kiểm tra giám sát chuyên trách, trong đó có kiểm toán nội bộ nh m đảm bảo cho việc vận hành các cơ chế kiểm soát nội bộ nói trên đƣợc thực hiện nghiêm, có hiệu quả. Đồng thời hệ thống kiểm soát nội bộ sẽ gắn liền với mọi bộ phận, mọi quy trình nghiệp vụ và mọi nhân viên trong doanh nghiệp ít nhiều sẽ tham gia vào việc kiểm soát nội bộ và kiểm soát lẫn nhau chứ không đơn thuần là chỉ có cấp trên kiểm soát cấp dƣới). Vai trò của kiểm soát nội bộ Vấn đề KSNB có ý nghĩa quan trọng đối với hầu hết các đơn vị.
Ở các đơn vị nh thì t chức quản lý theo kiểu gia đình; ở các đơn vị có quy mô lớn, quyền hạn càng phân chia cho nhiều cấp, các quan hệ giữa các bộ phận chức năng và các nhân viên càng trở nên phức tạp, quá trình truyền đạt và thu thập thông tin phản hồi càng trở nên khó khăn, tài sản lại càng phân tán ở nhiều địa điểm và trong nhiều hoạt động khác nhau, do đó đ i h i phải có một KSNB hữu hiệu.