Chương 1: Cơ sở lý luận về hoàn thuế GTGT và công tác kiểm soát hoàn thuế GTGT. Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát hoàn thuế GTGT tại Cục Thuế tỉnh Thanh Hóa. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát hoàn thuế GTGT tại Cục Thuế tỉnh Thanh Hóa. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1.
Những vấn đề cơ bản về thuế giá trị gia tăng (GTGT) 1. Khái niệm Tại Việt Nam, theo Điều 2, Luật Thuế GTGT năm 2008 thuế GTGT được hiểu: “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng” [18]. Đa số các bước trên thế giới áp dụng Luật thuế GTGTđều đưa ra khái niệm với nội hàm như trên. Thuế GTGT là một sắc thuế thuộc loại gián thu đánh trên khâu thuế tiêu dùng, vì vậy trước tiên nó mang đầy đủ các đặc điểm chung của thuế tiêu dùng.
Đặc điểm của thuế GTGT Theo Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2008, căn cứ vào những tác động đến sản xuất kinh doanh, người nộp thuế (NNT) và đối tượng chịu thuế, thuế GTGT có một số đặc điểm nổi bật sau: - Thứ nhất: thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn không trùng lắp. Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn. Tổng số thuế của tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. - Thứ hai, thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao.
Thuế GTGT không phải là yếu tố chi phí mà đơn thuần là yếu tố cộng thêm vào ngoài giá bán của người cung cấp hàng hoá, dịch vụ. Thuế GTGT không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi kết quả sản xuất kinh doanh của NNT. - Thứ ba, thuế GTGT là một sắc thuế thuộc loại thuế gián thu. Người 5 nộp thuế GTGT là người cung cấp hàng hoá, dịch vụ, người chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng.
Thuế GTGT là một khoản tiền được cộng vào giá bán hàng hoá, dịch vụ mà người mua phải trả khi mua hàng. - Thứ tư, thuế GTGT có tính luỹ thoái so với thu nhập. Thuế GTGT đánh vào hàng hoá, dịch vụ, người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ là người phải trả khoản thuế đó, không phân biệt thu nhập cao hay thấp đều phải trả số thuế như nhau, như vậy nếu so sánh giữa số thuế phải trả so với thu nhập thì người nào có thu nhập cao hơn thì tỷ lệ này thấp hơn và ngược lại. - Thứ năm, thuế GTGT có tính lãnh thổ, đối tượng chịu thuế là hàng hoá, dịch vụ được tiêu dùng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
Hoàn thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm về hoàn thuế GTGT Theo TS. Lê Hoằng Bá Huyền và PGS. Nguyễn Thị Bất, hoàn thuế là nguyên lý tất yếu của thuế GTGT khi số thuế đầu vào mà doanh nghiệp đã trả lớn hơn số thuế đầu ra mà doanh nghiệp đã nộp vào ngân sách nhà nước (NSNN).
Hay nói một cách khác hoàn thuế GTGT là việc nhà nước trả lại số thuế GTGT mà người nộp thuế đã nộp cho NSNN trong một số trường hợp nhất định. Cụ thể hơn, hoàn thuế GTGT là việc NSNN trả lại cho cơ sở kinh doanh hoặc tổ chức, cá nhân mua hàng hóa, dịch vụ về sử dụng số tiền thuế đầu vào đã trả khi mua hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh còn chưa được khấu trừ trong kỳ tính thuế hoặc hàng hóa, dịch vụ trong trường hợp tiêu dùng của tổ chức, cá nhân đó không thuộc diện chịu thuế [15]. Mục đích hoàn thuế GTGT là nhà nước trả lại số tiến thuế GTGT mà người nộp thuế đã ứng ra trả trong giá mua hàng hóa, dịch vụ nhưng chưa thu lại được hoặc không thu lại được ở khâu tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ hoặc đã được người nộp thuế nộp cho NSNN trong một số trường hợp nhất định nhưng vượt quá số thực sự phải nộp theo quy định của pháp luật. Đặc điểm của hoàn thuế GTGT Thứ nhất, chủ thể được hoàn thuế GTGT chính là đối tượng nộp thuế GTGT theo quy định của pháp luật.
Tại Khoản 1, Điều 2, Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế GTGT quy định rõ: “Người nộp thuế GTGT là các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT” [3]. Thực chất hoàn thuế là nhà nước trả lại đối tượng nộp thuế một khoản tiền thuế tương ứng với số tiền thuế mà chủ thể đó đã nộp thừa; thứ hai, tổ chức, cá nhân được hoàn thuế đã thực hiện nghĩa vụ thuế của mình, đó là chuyển quyển sở hữu một khoản tiền (thuế) nhất định vào NSNN. Tuy nhiên, sau đó tổ chức, cá nhân chiếu theo quy định pháp luật hiện hành,nếu phù hợp nộp đơn xin hoàn thuế GTGT và được cơ quan thuế có thẩm quyền ra quyết định hành chính hoàn thuế, tức chuyển quyền sở hữu một số tiền (thuế) nhất định từ NSNN trở lại cho tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh được hoàn thuế; thứ ba, căn cứ để cơ quan thuế có thẩm quyền xét và chấp nhận cho hoàn thuế là bộ hồ sơ hoàn thuế GTGT theo quy định của phát luật (Điều 58, Luật Quản lý thuế 2006 và Mục I phần G của Thông tư 60/2007/TT-BTC); thứ tư, nguồn tài chính để thực hiện hoàn thuế GTGT được trích lập từ số tiền thuế GTGT đã thu (hay quỹ hoàn thuế GTGT). Sử dụng quỹ này chỉ cho mục đích hoàn thuế theo quy định pháp luật và hướng dẫn của Bộ Tài chính.
Ý nghĩa và tác dụng của hoàn thuế GTGT Hoàn thuế GTGT có nhiều ý nghĩa, thể hiện tính ưu việt của thuế GTGT so với thuế doanh thu, khắc phục được sự trùng lặp nên phát huy tính tự giác cao của các doanh nghiệp; Tạo điều kiện về tài chính cho các doanh nghiệp khi gặp khó khăn đồng 7 thời góp phần khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư chiều sâu, đẩy mạnh xuất khẩu; Hoàn thuế GTGT còn giúp tạo lập sự công bằng, bình đẳng giữa các doanh nghiệp với tư cách là chủ thể nộp thuế và giữa doanh nghiệp với nhà nước; Tạo động lực để các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT thực hiện nghiêm chỉnh chế độ hóa đơn, chứng từ và kế toán theo hướng minh bạch hóa. Đối tượng và các trường hợp được hoàn thuế GTGT + Các doanh nghiệp thuộc đối tượng được hoàn thuế GTGT phải đáp ứng các điều kiện sau: - Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ. - Đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy phép đầu tư (giấy phép hành nghề) hoặc quyết định thành lập của cơ quan có thẩm quyền. - Có con dấu theo đúng quy định của pháp luật.
- Lập và lưu giữ sổ kế toán, chứng từ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán; - Có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng theo mã số thuế của cơ sở kinh doanh. + Các trường hợp được hoàn thuế GTGT Theo quy định tại Thông tư số 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016 và Thông tư số 25/2018/TT-BTC ngày 16/3/2018 của Bộ Tài chính quy định các trường hợp được hoàn thuế GTGT đối với cơ sở sản xuất kinh doanh cụ thể như sau: - Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được trừ hết trong tháng (đối với trường hợp kê khai theo tháng) hoặc trong quý (đối với trường hợp kê khai theo quý) 8 thì được khấu trừ vào kỳ tiếp theo; trường hợp cơ sở kinh doanh có số thuế GTGT chưa được khấu trừ hết phát sinh trước kỳ tính thuế tháng 7/2016 (đối với trường hợp kê khai theo tháng) hoặc trước kỳ tính thuế tháng 3/2016 (đối với trường hợp kê khai theo quý) đủ điều kiện hoàn thuế GTGT theo hướng dẫn tại khoản 1 điều 18 thông tư 219/2013/TT-BTC thì cơ quan thuế giải quyết hoàn thuế theo quy định của pháp luật. - Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư đã đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, hoặc dự án tìm kiếm thăm dò và phát triển mỏ dầu khí đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, nếu thời gian đầu tư từ 01 năm (12 tháng) trở lên thì được hoàn thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho đầu tư theo từng năm. Trường hợp, nếu số thuế GTGT luỹ kế của hàng hoá, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT.
- Hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư bao gồm: + Cơ sở kinh doanh đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư (trừ dự án đầu tư xây dựng nhà để bán) cùng tỉnh, thành phố, đang trong giai đoạn đầu tư thì cơ sở kinh doanh thực hiện kê khai riêng đối với dự án đầu tư và phải kết chuyển thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư để bù trừ với việc kê khai thuế GTGT của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện. Số thuế GTGT được kết chuyển của dự án đầu tư tối đa bằng số thuế GTGT phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của cơ sở kinh doanh. Sau khi bù trừ nếu số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư. + Trường hợp cơ sở kinh doanh đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới (trừ dự án đầu tư xây dựng nhà để bán) tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác 9 với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính, đang trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, chưa đăng ký thuế thì cơ sở kinh doanh lập hồ sơ khai thuế riêng cho dự án đầu tư đồng thời phải kết chuyển thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư để bù trừ với việc kê khai thuế GTGT của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện.
Số thuế GTGT được kết chuyển của dự án đầu tư tối đa bằng số thuế GTGT phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của cơ sở kinh doanh.