CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM 1. Khái quát chung về chi thường xuyên từ ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước 1. Khái niệm Trần Trọng Chính và cộng sự (2021,10), nêu rằng: “chi thường xuyên là nhiệm vụ chi của NSNN nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh”. Hệ thống chi thường xuyên NSNN bao gồm chi ngân sách trung ương (NSTW) và chi ngân sách địa phương (NSĐP): Cao Quý Khương và cộng sự (2019,25) nêu rằng Nhiệm vụ chi thường xuyên của NSTW là các khoản chi nhằm đảm bảo hoạt động bộ máy của các bộ, cơ qua ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương trong các lĩnh vực quốc phòng; an ninh trật tự, an toàn xã hội; sự nghiệp giáo dục - đào tạo và dạy nghề; sự nghiệp khoa học và công nghệ; sự nghiệp y tế, dân số và gia đình; sự nghiệp văn hóa thông tin; sự nghiệp phát thanh, truyền hình, thông tấn; sự nghiệp thể thao; sự nghiệp bảo vệ môi trường; các hoạt động kinh tế; hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội; hỗ trợ hoạt động cho các tổ chức chính trị xã hội nghề nghệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp theo quy định của pháp luật; chi bảo đảm xã hội, bao gồm cả chi hỗ trợ thực hiện các chính sách xã hội theo quy định của pháp luật và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
Cao Quý Khương và cộng sự (2019,26) nêu rằng Nhiệm vụ chi thường xuyên của NSĐP (gồm NS của các cấp chính quyền địa phương) là các khoản chi nhằm đảm bảo hoạt động bộ máy của các cơ quan, đơn vị ở địa phương được phân cấp trong các lĩnh vực: Sự nghiệp giáo dục - đào tạo và dạy nghề; sự nghiệp khoa học và công nghệ; quốc phòng; an ninh trật tự, an toàn xã hội phần địa phương quản lý; sự nghiệp y tế, dân số và gia đình; sự nghiệp văn hóa thông tin; sự nghiệp phát thanh, truyền hình; sự nghiệp thể dục thể thao; sự nghiệp bảo vệ môi trường; các hoạt động kinh tế; hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội; hỗ trợ hoạt động cho các tổ chức chính trị xã hội nghề nghệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp theo quy định của pháp luật; chi bảo đảm xã hội, bao gồm cả chi hỗ trợ thực hiện 5 các chính sách xã hội theo quy định của pháp luật và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. Đặc điểm Thứ nhất, các khoản chi NSNN nói chung thường không mang tính bồi hoàn trực tiếp, ngoại trừ các khoản chi NSNN cho vay hỗ trợ, ưu đãi thông qua một tổ chức tín dụng đặc biệt của Nhà nước mang đặc thù của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ. Hầu hết các khoản chi thường xuyên từ NSNN mang tính chất ổn định, có tính chất chu kỳ trong một khoảng thời gian nhất định (hàng tháng, hàng quý, hàng năm). Thứ hai, các khoản chi thường xuyên từ NSNN hầu hết sử dụng cho tiêu dùng.
Các khoản chi này dùng để trang trải cho các hoạt động quản lý hành chính, các hoạt động về quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội và các hoạt động khác. Những hoạt động này không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội nhưng lại tạo ra môi trường kinh tế ổn định đồng thời nâng cao chất lượng lao động. Các khoản chi thường xuyên tạo ra hàng hóa và dịch vụ công cộng cho các hoạt động của Nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Mức độ chi thường xuyên gắn với quy mô, cơ cấu tổ chức bộ máy của Nhà nước, chức năng nhiệm vụ của các đơn vị tổ chức được giao nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ công cho Nhà nước.
Bộ máy Nhà nước gọn nhẹ và hoạt động hiệu quả thì chi thường xuyên NSNN cũng sẽ giảm và ngược lại. Thứ ba, do tính chất chi thường xuyên sử dụng để duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị xã hội mà mức độ và phạm vi các khoản chi thường xuyên từ NSNN gắn liền với cơ cấu tổ chức của bộ máy nhà nước, gắn với việc thực hiện các chính sách chính trị, kinh tế, xã hội của Nhà nước thay đổi theo từng thời kỳ. Các quan điểm, chính sách và chủ trương về phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước ảnh hưởng rất lớn đến định hướng, mức độ và phạm vi chi thường xuyên NSNN. Vì vây, các khoản chi NSNN gắn chặt với sự vận động của các phạm trù giá trị khác như tiền lương, giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái và các phạm trù khác thuộc lĩnh vực tiền tệ.
Nội dung chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước Nguyễn Hoàng Đệ và cộng sự (2020, 45) nêu rằng Các khoản chi thường xuyên từ NSNN là những khoản chi nhằm đảm bảo duy trì các hoạt động của bộ máy Nhà nước. Các khoản chỉ thường xuyên của ngân sách được phân cấp cho từng cấp của hệ thống NSNN. NSTW đảm nhận các khoản chi thường xuyên mang tính quốc gia như các khoản chi cho các hoạt động quốc phòng, an ninh, sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa thông tin. do trung ương trực tiếp quản 6 lí.
NSĐP đảm nhận các khoản chi thường xuyên theo phân cấp quản lí trực tiếp về kinh tế - xã hội của từng cấp chính quyền địa phương. Chi thường xuyên từ NSNN qua KBNN được phân theo lĩnh vực chi và nội dung chi ngân sách bao gồm: Chi thường xuyên từ NSNN theo lĩnh vực chi bao gồm: - Chi cho quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội là các khoản chi cho quân đội, công an và các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang. - Chi cho các hoạt động sự nghiệp văn hóa - xã hội: gồm chi cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, dân số, gia đình, văn hóa thông tin, phát thanh, truyền hình, thông tấn, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ,… - Chi cho hoạt động sự nghiệp kinh tế: sự nghiệp thủy lợi, lâm nghiệp, ngư nghiệp; giao thông, kiến thiết thị chính, thủy văn và khí tượng, đo đạc bản đồ; định canh, định cư, kinh tế mới, tài nguyên. - Chi cho công tác quản lý hành chính: chi cho hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội từ Trung ương đến địa phương.
- Các khoản chi khác: ngoài các khoản chi trên, còn một số khoản chi thường xuyên khác như chi cho các chương trình mục tiêu quốc gia, chi trợ giá, chi trợ cấp cho đối tượng chính sách theo quy định của pháp luật, chi hỗ trợ cho quỹ bảo hiểm xã hội,… Trong quản lý NSNN hiện nay, các khoản chi chủ yếu được phân loại theo nội dung kinh tế, theo mục lục ngân sách (chương, loại, khoản, mục, tiểu mục chi NS) bao gồm: - Chi thanh toán cá nhân: là các khoản chi cho con người gồm tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công như tiền thưởng, phụ cấp và phúc lợi tập thể, các khoản tiền học bổng cho công chức, viên chức, người lao động của các ĐVSDNS, các khoản thanh toán cho cá nhân theo chế độ, tiêu chuẩn, định mức đối với cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy Nhà nước. Bên cạnh đó, tại một số đơn vị có tính chất đặc thù như trường học, trại điều dưỡng,… có các khoản chi thanh toán cá nhân không nằm trong biên chế của đơn vị nhưng lại được Nhà nước giao cho các đơn vị này có trách nhiệm quản lý và chi trả thanh toán như chi học bổng cho học sinh, sinh viên, chi lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội,… Chi thanh toán cá nhân là nhóm chi có tỷ lệ cao nhất trong các khoản chi thường xuyên từ NSNN, là nhóm chi có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người lao động nên đòi hỏi phải thực hiện công khai, minh bạch, công bằng, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định 7 mức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành và không vượt dự toán được cấp có thẩm quyền giao. - Chi cho hoạt động chuyên môn nghiệp vụ: là các khoản chi nhằm phục vụ hoạt động chung của mỗi cơ quan, đơn vị sử dụng NS và các khoản chi gắn liền với hoạt động nghiệp vụ của từng cơ quan đơn vị. Các cơ quan, đơn vị nhà nước muốn duy trì hoạt động cần phải chi trả các khoản chi phí chung cần thiết như: chi tiền điện, tiền nước, tiền vệ sinh công sở, các khoản chi mà cơ quan, đơn vị phải thanh toán cho các đơn vị bưu chính, viễn thông, lắp đặt, nguyên nhiên liệu, vật tư, chi cho lễ tân, khánh tiết, chi văn phòng phẩm.
tại cơ quan, đơn vị và các khoản chi dùng chung khác và các khoản chi phục vụ cho hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của từng ngành như mua sổ sách chuyên dùng phục vụ công tác hạch toán và thống kê; chi mua các hàng hóa, vật tư, thiết bị chuyên dùng nhưng không phải là TSCĐ, chi mua ấn chỉ, trang phục thuê giáo viên, chuyên gia để thực hiện hoạt động đào tạo, tập huấn cho nhân viên nhằm thực hiện nhiệm vụ của đơn vị, chi hội thảo, hội nghị, chi nghiên cứu khoa học. - Các khoản chi mua sắm, sửa chữa tài sản phục vụ cho công tác chuyên môn nghiệp vụ: Trong quá trình hoạt động các đơn vị còn được Nhà nước cấp một khoản kinh phí chi cho việc mua sắm tài sản cho công tác nghiệp vụ; các khoản chi chuyên môn của từng ngành, chi cho vật tư văn phòng, chi phục vụ sửa chữa các thiết bị, chi sửa chữa ô tô và các thiết bị khác. - Các khoản chi thường xuyên khác: là các khoản chi ngoài các khoản chi ở trên như chi tiếp khách, chi trợ cấp khó khăn, trợ cấp thất nghiệp… .các khoản chi này thường chiếm một tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu chi thường xuyên.