CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ KHÔNG GIAN LÀNG VÀ KIẾN TRÚC TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC XƠ ĐĂNG, TỈNH KON TUM 1. Khái quát chung về dân tộc Xơ Đăng vùng Tây Nguyên a. Lịch sử phát triển vùng Tây Nguyên Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1776), Tây Nguyên lúc đó được gọi là “Nước Nam Bàn” có khoảng 50 thôn nằm ở phía tây Phú Yên, có hai vua gọi là Hỏa Xá và Thủy Xá ngự trị. Người Pháp đã dành sự chú ý đặc biệt đến Tây Nguyên, trước khi sang xâm lược nước ta.
Cuốn sách Địa chí Gia Lai (1999) ghi lại: vào năm 1775, người Pháp đã sử dụng những đoàn truyền đạo đến vùng đất này để xây dựng các cơ sở tôn giáo chính trị. Sau khi chiếm Tây Nguyên vào năm 1898, thực dân Pháp đã lập ra chế độ trực trị, đặt Tòa Đại lý hành chính tại Kon Tum và ủy quyền cho linh mục Viallenton làm đại lý [33]. Nhà nghiên cứu Lưu Hùng viết trong cuốn “Buôn làng cổ truyền xứ Thượng” (1994) cho rằng thuở sơ khai tộc người Tây Nguyên thuộc hai ngữ hệ Nam Á (Môn Kheme) và Nam đảo (MãLaio-Poly nêdi) [25]. Theo một số tài liệu về dân tộc học cho thấy, một điều gây ngạc nhiên là số lượng dân tộc ở Tây Nguyên vẫn còn tranh cãi.
Có thể do quan điểm phân chia các tộc người của các nhà nghiên cứu khác nhau, nhiều dân tộc lại chia thành những nhóm nhỏ hơn nên đã dẫn tới sự không thống nhất này. Sự đa dạng của vùng đất Tây Nguyên vẫn còn nhiều bí ẩn để được khám phá. - Văn hóa, tín ngưỡng: +Tổ chức xã hội ở cấp cơ sở là các làng, buôn, bon, plei, non… + Chế độ mẫu hệ: Một nét văn hóa độc đáo và phổ biến ở các dân tộc Tây Nguyên là chế độ mẫu hệ. Chế độ mẫu hệ tồn tại trong dòng họ và gia đình Tây Nguyên từ hàng trăm năm nay, hình thành từ đặc điểm quần hôn nguyên thủy.
4 + Văn hóa cồng chiêng: Dân tộc Tây Nguyên có hai loại nhạc cụ chính là cồng và chiêng. Cồng làm bằng đồng có cái núm ở giữa, còn nếu phẳng, không có núm thì gọi là chiêng. Nhà nghiên cứu âm nhạc Bùi Trọng Hiền khẳng định giá trị nghệ thuật sâu sắc và độc đáo của cồng chiêng, khác với các nước khác. Chính những nét độc đáo này đã khiến Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Di sản phi vật thể thế giới [29].
- Hình thái định cư, không gian làng và kiến trúc truyền thống buôn làng Tây Nguyên Mật độ phân bố buôn làng và quy mô không chỉ gắn với yếu tố địa hình mà còn quan hệ tới trình độ kinh tế và mức độ ổn định cuộc sống, chia ra ba cấp độ chính như sau: + Các vùng canh tác rẫy trên địa hình kém thuận lợi, độ dốc lớn, phải du canh du cư luôn. Địa bàn của người Giẻ Triêng, Xơ Đăng. Làng họ thường nhỏ bé về dân số, nhà cửa tạm bợ. + Các vùng canh tác rẫy trên địa hình có điều kiện hạn chế việc du canh du cư (quỹ đất dồi dào, đất màu mỡ, ít dốc.
Điển hình là nơi cư trú của người Bahnar, Kbang, Mang Yang… Làng của họ khá đông dân, nhà cửa bền chắc, chỗ ở ổn định khoảng 20 đến 30 năm. + Các vùng canh tác lúa nước hoặc làm rẫy trên đất bằng, dốc nhỏ, làm nà thô. Tiêu biểu ở những khu vực này là người Jrai, Ê Đê, M’Nông… b. Lịch sử phát triển dân tộc Xơ Đăng Dân tộc Xơ Đăng cư trú trong các huyện Đăk Tô, Đăk Glây, Kon Plông và thành phố Kon Tum, thuộc tỉnh Kon Tum; huyện Trà My, tỉnh Quảng Nam và huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi.
Các các nhà khoa học nghiên cứu về nguồn gốc dân tộc thông qua ngôn ngữ cho thấy tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á - Xem hình 4)). Tuy nhiên, các ngôn ngữ của họ gần gũi với các cư dân Mông - Dao và một số nhóm Tạng - Miến, chứng tỏ xa xưa tổ tiên họ có thể ở quá về phía Bắc. Một giả thiết cho rằng tổ tiên người Chăm đã tách họ ra với tổ tiên người Việt - 5 Mường và sau đó những xung đột nội bộ của cư dân Môn - Khơ me, những cuộc xung đột với người Chăm (thế kỷ XII - XV), với người Lào (thế kỷ XVI), người Xiêm (thế kỷ XVIII - XIX), sự tràn lấn của các nhóm Môn - Khơ me như Cơ tu, Bru, Tà Ôi. từ Lào sang đã thu hẹp phạm vi cư trú của họ.
Họ tìm thấy một nơi sinh sống sau những thế kỷ biến động xung quanh vùng núi Ngọc Linh [23]. Dân tộc Xơ Đăng có khả năng đã có một cuộc thiên di lớn trong lịch sử từ phương Bắc nhưng ngày nay đã sinh sống ổn định dưới chân núi Ngọc Linh, Tây Nguyên. Theo Tạp chí Dân tộc và Phát triển, dân tộc Xơ Đăng bao gồm các 5 nhóm người [4]. - Cấu trúc làng Xơ Đăng truyền thống cũng đã được nghiên cứu trong một số tác phẩm kinh điển [25, 85, 84, 90].
Qua đó, cấu trúc làng Xơ Đăng truyền thống có những dạng sau: Các kiểu cấu trúc làng truyền thống của dân tộc Xơ Đăng làng gốc được hình thành bố cục theo hình bầu dục hay hình vành khuyên, với các biến thể dạng hình vuông, hình chữ nhật hay đa giác, hình rẽ quạt hướng tâm hay hình móng ngựa. Kiểu làng có cấu trúc hình tròn. Hình 1: Cấu trúc truyền thống (Ng: Tác giả) Hình 2: Cấu trúc một nóc trung tâm (Ng:Tác giả) 6 b. Kiểu làng có cấu trúc theo hình móng ngựa Hình 3: Cấu trúc hình móng ngựa (Ng: tác giả) Hình 4: Nóc Măng Tó xã Trà Cang (Ng: tác giả) Hình 5: Làng Đak Chum xã Tu Mơ Rông (Ng: Hình 6: Làng Nước Min xã Sơn Mùa tác giả) (Ng: tác giả) c.
Cấu trúc hình bầu dục Hình 7: Cấu trúc hình bầu dục (Ng: tác giả) Hình 8: Cấu trúc hình đa giác (Ng: tác giả) - Kiến trúc truyền thống 7 a. Nhà Rông Nhà Rông của người Xơ Đăng là ngôi nhà sàn rộng, mái cao, nhìn từ xa như lưỡi rìu dựng ngược có kết cấu gồm hai mái chính có độ dốc không lớn. Nóc và mái nhà Rông có hình chim chèo bẻo hay sừng thú chót vót ở hai đầu dốc. Nhà mồ: Các tộc người trên vùng đất Tây Nguyên, nhà mồ và tượng mồ là một trong những văn hóa tâm linh đặc sắc.
Tuy nhiên, dân tộc Xơ Đăng không có lễ bỏ mả và tượng nhà mồ. Khu nghĩa địa là địa vực được lựa chọn bởi chính người đang sống dựa trên nguyên tắc về địa vực cư trú của người Xơ Đăng. Nhà ở Nhà ở truyền thống của người Xơ Đăng gồm 2 loại: Nhà sàn dài, nhà sàn ngắn, 1. Thực trạng không gian làng và kiến trúc truyền thống dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Kon Tum Người Xơ Đăng cư trú tập trung tại các tỉnh: Kon Tum: 133.
Trong đó hai huyện Đăk Hà và Tu Mơ Rông có số dân Xơ Đăng đông nhất. Nhìn chung, cấu trúc làng truyền thống hiện nay đã có nhiều biến đổi bởi các yếu tố cốt lõi đã thay đổi. Bố cục nhà ở làng Xơ Đăng ngày nay khá tự do. Các nhóm nhà hình thành bám theo hệ thống giao thông.
-Thực trạng kiến trúc truyền thống dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Kon Tum Ngoại trừ nhà sàn dài, nhà rông và nhà sàn ngắn vẫn được duy trì trong tộc người Xơ Đăng. Tuy nhiên, hình dáng và vật liệu xây dựng đã bị biến đổi. Tỷ lệ nhà sàn, nhà Rông được xây dựng theo phong cách truyền thống ngày càng giảm. - Các tồn tại và thách thức Hiện nay, trong xu hướng giao lưu toàn cầu, nền kinh tế thị trường cùng với việc phủ kín quy hoạch với chủ chương kết nối liên thôn, liên xã, đồng bộ hạ tầng, cộng đồng Xơ Đăng không còn là nhóm người khép kín mà cũng đã hòa nhập cùng với nhịp sống chung của cộng đồng khác.
Việc khai thác nguồn tài nguyên thiên 8 nhiên trong xây dựng và sinh kế đã được kiểm soát chặt chẽ. Những yếu tố này đã làm biến động yếu tố cốt lõi trong xã hội, hình thái và cả diện mạo của buôn làng Xơ Đăng. Sự biến động này đã bắt nguồn từ những giai đoạn trước đây và cần được tìm ra đặc điểm vận động của nó. Từ đó định hướng và tìm ra mô hình không gian làng thích ứng với sự phát triển và bảo tồn những giá trị cốt lõi.
Các nghiên cứu có liên quan Những nghiên cứu chuyên sâu về dân tộc Xơ Đăng không nhiều. Những nghiên cứu này thường nằm trong các công trình nghiên cứu chung về DTTS Tây Nguyên. Các công trình chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực cụ thể của nghi lễ như: văn hóa, tập quán, tín ngưỡng các nghi lễ vòng đời người, nghi lễ nông nghiệp, nghi lễ cộng đồng,. vấn đề không gian cư trú và kiến trúc truyền thống chỉ được đề cập đến một phần nhỏ chủ yếu là miêu tả, ghi chép chưa đề cập đến các giải pháp, đề xuất cụ thể.
Các công trình khoa học cũng thiếu đi những phân tích về sự biến chuyển của tộc người Xơ Đăng qua từng thời kỳ mà chỉ ghi lại đặc điểm thực trạng tại thời điểm nghiên cứu. Quá trình biến đổi sẽ giúp cho việc phát hiện được đặc điểm của sự vận động. Từ đó có những giải pháp bền vững bởi bất cứ sự tác động trái quy luật đều dẫn đến sự phá hủy. Trong nhiều khoảng trống đối với nghiên cứu khoa học về các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Kon Tum, thì không gian cư trú và kiến trúc truyền thống vẫn là vấn đề cấp thiết cần được chú trọng.
Đa số các công trình và bài viết đã công bố mới chỉ giới thiệu sơ lược về một số hình thức ghi chép miêu tả không gian cư trú và kiến trúc truyền thống của người Xơ Đăng mà thiếu đi sự so sánh giữa truyền thống và hiện tại. Do đó, việc tiếp tục thực hiện công trình nghiên cứu tổng quát và có hệ thống về sự không gian cư trú và kiến trúc truyền thống của dân tộc Xơ Đăng là cần thiết phải bổ sung. Xác định những vấn đề cần nghiên cứu - Vậy đặc điểm của sự biến đổi không gian và kiến trúc truyền thống của dân tộc Xơ Đăng là như thế nào?. - Tiêu chí nào để đánh giá sự biến đổi đó? - Giải pháp, mô hình không gian làng nào tộc người Xơ Đăng đồng thời bảo tồn những giá trị cốt lõi nhưng vẫn thích ứng với tiến trình phát triển.