Nghiên cứu Tổ Chức Không Gian Làng và Kiến Trúc Truyền Thống Xơ Đăng Kon Tum

Khám phá không gian văn hóa độc đáo của làng Xơ Đăng Kon Tum qua kiến trúc truyền thống. Tìm hiểu về nét đẹp và giá trị bản địa đặc sắc.

Trường đại học

Viện Kiến Trúc Quốc Gia

Chuyên ngành

Kiến trúc

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2023

43
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:

2. Mục đích nghiên cứu

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Phạm vi nghiên cứu:

3.3. Thời gian nghiên cứu:

4. Phương pháp nghiên cứu

5. Tính mới của luận án

6. Một số khái niệm và thuật ngữ

7. Cấu trúc của luận văn

1. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ KHÔNG GIAN LÀNG VÀ KIẾN TRÚC TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC XƠ ĐĂNG, TỈNH KON TUM

1.1. Khái quát chung về dân tộc Xơ Đăng vùng Tây Nguyên

1.1.1. Lịch sử phát triển vùng Tây Nguyên

1.1.2. Lịch sử phát triển dân tộc Xơ Đăng

1.2. Thực trạng không gian làng và kiến trúc truyền thống dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Kon Tum

1.3. Các nghiên cứu có liên quan

1.4. Xác định những vấn đề cần nghiên cứu

2. CHƯƠNG II: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TỔ CHỨC KHÔNG GIAN VÀ KIẾN TRÚC TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC XƠ ĐĂNG, TỈNH KON TUM

2.1. Cơ sở pháp lý

2.2. Cơ sở lý thuyết

2.3. Cơ sở thực tiễn

2.4. Các yếu tố tác động tới không gian làng, kiến trúc truyền thống dân tộc Xơ Đăng

2.4.1. Điều kiện tự nhiên

2.4.2. Phương thức sản xuất

3. CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP TỔ CHỨC TRONG KHÔNG GIAN VÀ KIẾN TRÚC TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC XƠ ĐĂNG, TỈNH KON TUM

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Không Gian Làng Kiến Trúc Xơ Đăng Kon Tum

Vùng đất Tây Nguyên ẩn chứa lịch sử hình thành lâu đời. Dân tộc Xơ Đăng, hay Xê Đăng, chiếm tỷ lệ dân cư lớn tại Kon Tum và các vùng lân cận. Hiện nay, các làng Xơ Đăng đang phát triển gần các trung tâm và đường tỉnh lộ do phát triển kinh tế, quy hoạch nông thôn mới và tái định cư. Quá trình này phản ánh sự biến đổi sâu sắc trong tư duy truyền thống về không gian cư trú. Các công trình kiến trúc như nhà rông Xơ Đăng, nhà mồ, nhà sàn, biểu tượng của Tây Nguyên, đang có xu hướng thay đổi về hình thức, kết cấu, vật liệu và chức năng. Nghiên cứu nhận diện quá trình biến đổi và nguyên nhân của hình thái, cấu trúc làng truyền thống Xơ Đăng còn hạn chế. Do đó, việc hài hòa giữa bảo tồn và phát triển giá trị truyền thống chưa hiệu quả. Đứng trước yêu cầu phát triển bền vững, việc giữ gìn giá trị truyền thống cần được xem xét khoa học. Nghiên cứu sâu về biến đổi cấu trúc làng và kiến trúc truyền thống Xơ Đăng sẽ đưa ra giải pháp thích ứng, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị, tạo nên thương hiệu cho Tây Nguyên. NCS chọn đề tài luận án “Tổ chức không gian làng và kiến trúc truyền thống Xơ Đăng, tỉnh Kon Tum”. Mục đích nghiên cứu là phát hiện đặc điểm phát triển, sự tương tác giữa yếu tố vật thể và phi vật thể trong cấu trúc làng và kiến trúc truyền thống theo giai đoạn phát triển. Đề xuất những giải pháp gìn giữ và phát huy giá trị truyền thống dân tộc Xơ Đăng trong tổ chức không gian làng và kiến trúc, đáp ứng nhu cầu cuộc sống hiện đại và phù hợp với quá trình xây dựng nông thôn mới tại Kon Tum hiện nay.

1.1. Lịch Sử Phát Triển Văn Hóa Tín Ngưỡng Của Người Xơ Đăng

Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1776), Tây Nguyên được gọi là “Nước Nam Bàn” có khoảng 50 thôn. Pháp đã chú ý đến Tây Nguyên trước khi xâm lược. Nhà nghiên cứu Lưu Hùng cho rằng tộc người Tây Nguyên thuộc hai ngữ hệ Nam Á (Môn Kheme) và Nam đảo. Có sự tranh cãi về số lượng dân tộc ở Tây Nguyên. Tổ chức xã hội ở cấp cơ sở là các làng, buôn. Chế độ mẫu hệ là nét văn hóa độc đáo và phổ biến. Dân tộc Tây Nguyên có hai loại nhạc cụ chính là cồng và chiêng. Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Di sản phi vật thể thế giới. Mật độ phân bố buôn làng và quy mô gắn với địa hình, kinh tế, mức độ ổn định cuộc sống, chia ra ba cấp độ chính. Dân tộc Xơ Đăng cư trú ở Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Ngôn ngữ Xơ Đăng thuộc ngữ hệ Môn - Khơ Me. Một giả thiết cho rằng tổ tiên người Chăm đã tách họ ra với tổ tiên người Việt. Dân tộc Xơ Đăng có khả năng đã có một cuộc thiên di lớn trong lịch sử từ phương Bắc nhưng ngày nay đã sinh sống ổn định dưới chân núi Ngọc Linh, Tây Nguyên. Cấu trúc làng Xơ Đăng truyền thống có nhiều dạng.

1.2. Các Loại Hình Kiến Trúc Truyền Thống Xơ Đăng Hiện Nay

Nhà rông Xơ Đăng là ngôi nhà sàn rộng, mái cao, như lưỡi rìu dựng ngược, nóc và mái có hình chim chèo bẻo. Nhà mồ: Dân tộc Xơ Đăng không có lễ bỏ mả và tượng nhà mồ. Khu nghĩa địa được lựa chọn bởi người đang sống. Nhà ở truyền thống của người Xơ Đăng gồm 2 loại: Nhà sàn dài, nhà sàn ngắn. Người Xơ Đăng cư trú tập trung tại các tỉnh: Kon Tum. Cấu trúc làng truyền thống hiện nay đã có nhiều biến đổi. Bố cục nhà ở làng Xơ Đăng ngày nay khá tự do. Các nhóm nhà hình thành bám theo hệ thống giao thông. Ngoại trừ nhà sàn dài, nhà rông Kon Tum và nhà sàn ngắn vẫn được duy trì. Tuy nhiên, hình dáng và vật liệu xây dựng đã bị biến đổi. Tỷ lệ nhà sàn, nhà Rông được xây dựng theo phong cách truyền thống ngày càng giảm. Các tồn tại và thách thức: Trong xu hướng giao lưu toàn cầu, cộng đồng Xơ Đăng không còn là nhóm người khép kín. Việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên đã được kiểm soát chặt chẽ. Điều này đã làm biến động yếu tố cốt lõi trong xã hội, hình thái và cả diện mạo của buôn làng Xơ Đăng.

II. Thực Trạng Biến Đổi Không Gian Làng Truyền Thống Xơ Đăng

Trong xu hướng giao lưu toàn cầu, cộng đồng Xơ Đăng không còn khép kín mà hòa nhập. Việc khai thác tài nguyên thiên nhiên bị kiểm soát chặt. Điều này làm biến đổi yếu tố cốt lõi trong xã hội, hình thái và diện mạo buôn làng Xơ Đăng. Cần tìm hiểu đặc điểm vận động, từ đó định hướng và tìm ra mô hình không gian làng thích ứng. Các nghiên cứu chuyên sâu về dân tộc Xơ Đăng không nhiều. Nghiên cứu thường nằm trong công trình chung về DTTS Tây Nguyên, tập trung vào nghi lễ. Vấn đề không gian cư trú và kiến trúc truyền thống chỉ được đề cập một phần nhỏ. Các công trình khoa học thiếu phân tích về sự biến chuyển của tộc người Xơ Đăng qua từng thời kỳ. Quá trình biến đổi sẽ giúp phát hiện đặc điểm vận động, từ đó có giải pháp bền vững. Trong nhiều khoảng trống đối với nghiên cứu khoa học về các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Kon Tum, thì không gian cư trú và kiến trúc truyền thống vẫn là vấn đề cấp thiết. Đa số công trình mới chỉ giới thiệu sơ lược, thiếu sự so sánh giữa truyền thống và hiện tại. Do đó, cần thực hiện nghiên cứu tổng quát và hệ thống về sự không gian cư trú và kiến trúc Xơ Đăng.

2.1. Các Nghiên Cứu Liên Quan Vấn Đề Cần Nghiên Cứu Sâu Hơn

Những nghiên cứu chuyên sâu về dân tộc Xơ Đăng không nhiều. Những nghiên cứu này thường nằm trong các công trình nghiên cứu chung về DTTS Tây Nguyên. Các công trình chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực cụ thể của nghi lễ như: văn hóa, tập quán, tín ngưỡng các nghi lễ vòng đời người, nghi lễ nông nghiệp, nghi lễ cộng đồng,. vấn đề không gian cư trú và kiến trúc truyền thống chỉ được đề cập đến một phần nhỏ chủ yếu là miêu tả, ghi chép chưa đề cập đến các giải pháp, đề xuất cụ thể. Các công trình khoa học cũng thiếu đi những phân tích về sự biến chuyển của tộc người Xơ Đăng qua từng thời kỳ mà chỉ ghi lại đặc điểm thực trạng tại thời điểm nghiên cứu. Quá trình biến đổi sẽ giúp cho việc phát hiện được đặc điểm của sự vận động. Từ đó có những giải pháp bền vững bởi bất cứ sự tác động trái quy luật đều dẫn đến sự phá hủy.

2.2. Các Câu Hỏi Nghiên Cứu Về Không Gian Kiến Trúc Xơ Đăng

Cần trả lời các câu hỏi: Đặc điểm của sự biến đổi không gian và kiến trúc truyền thống của dân tộc Xơ Đăng là gì? Tiêu chí nào để đánh giá sự biến đổi đó? Giải pháp, mô hình không gian làng nào giúp tộc người Xơ Đăng đồng thời bảo tồn những giá trị cốt lõi nhưng vẫn thích ứng với tiến trình phát triển. Cơ sở pháp lý: Nghiên cứu văn bản quy phạm pháp luật của chính phủ liên quan đến Bộ Tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới. Rà soát các chiến lược, chương trình, quy hoạch, kế hoạch về dân tộc thiể số, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa Tây Nguyên gắn với phát triển bền vững. Cơ sở lý thuyết: Nghiên cứu 3 nhóm lý thuyết chính: Lý thuyết về tổ chức không gian làng. Lý thuyết chuyển hóa trong quy hoạch và kiến trúc. Lý thuyết về khả năng phục hồi và thích ứng. Cơ sở thực tiễn: Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về bảo tồn và phát huy giá trị các làng truyền thống. Một số kinh nghiệm trong nước như: Mô hình kiến trúc bản làng kết hợp với dịch vụ du lịch Làng truyền thống Cơ Tu tại thôn Đhơ Rôồng, xã Tà Lu, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam. Giải pháp quy hoạch, kiến trúc làng Anh Nhoi 1 thuộc xã Sơn Long huyện Sơn Tây tỉnh Quảng Ngãi.

III. Phân Tích Các Yếu Tố Tác Động Đến Làng Truyền Thống Xơ Đăng

Thông qua các lý luận về nhận diện đặc điểm biến đổi về không gian cư trú cho thấy, các yếu tố tác động đến không gian làng và kiến trúc truyền thống dân tộc Xơ Đăng như sau: Điều kiện tự nhiên: Giảm diện tích rừng nguyên sinh kéo theo hàng loạt sự thay đổi khác của môi trường tự nhiên như sạt lở, xói mòn, lũ quét… Rừng và nguồn nước suy giảm khiến cho lõi làng bị thu hẹp hoặc biến mất. Bố cục làng có thêm những thành phần mới hoặc chuyển biến sang dạng làng đô thị, nhóm ở đô thị. Phương thức sản xuất. Việc phát huy tiềm năng tự nhiên để phát triển kinh tế trong thời gian qua đã và đang đặt ra "sức ép" rất lớn về môi trường tự nhiên đối với sự phát triển bền vững của khu vực này. Chính sách quốc gia: Chính sách quốc gia ảnh hưởng mạnh mẽ đến không gian cư trú của người Xơ Đăng trải dài qua các giai đoạn đều tác động và làm biến đổi bố cục làng truyền thống cũng như kiến trúc đặc trưng của dân tộc Xơ Đăng. Quan hệ xã hội: Mối quan hệ xã hội của đồng bào dân tộc Xơ Đăng không còn khép kín nhưng trước đây, làng không còn tính phòng thủ. Tôn giáo tín ngưỡng: Khác với dân tộc thiểu số khác, người Xơ Đăng có sự chuyển đổi lớn về tôn giáo tín ngưỡng và đức tin.

3.1. Ảnh Hưởng Từ Điều Kiện Tự Nhiên Phương Thức Sản Xuất

Giảm diện tích rừng nguyên sinh: Nhìn nhận rõ nhất sự biến đổi này phải kể đến sự suy giảm rừng nguyên sinh. Sự suy giảm này kéo theo hàng loạt sự thay đổi khác của môi trường tự nhiên như sạt lở, xói mòn, lũ quét… Rừng và nguồn nước suy giảm khiến cho lõi làng bị thu hẹp hoặc biến mất. Bố cục làng có thêm những thành phần mới hoặc chuyển biến sang dạng làng đô thị, nhóm ở đô thị. Việc phát huy tiềm năng tự nhiên để phát triển kinh tế trong thời gian qua đã và đang đặt ra "sức ép" rất lớn về môi trường tự nhiên đối với sự phát triển bền vững của khu vực này. Bởi lẽ mọi hoạt động kinh tế ở đây đều liên quan đến việc sử dụng và khai thác đất rừng, đặc biệt là thực trạng chuyển đổi đất rừng sang trồng các cây công nghiệp và các cây nông nghiệp,. Quỹ đất thuộc sở hữu của làng theo quan niệm truyền thống cũng đang bị thu hẹp; kỹ thuật canh tác luân khoảnh để đất hưu canh truyền thống trên đất dốc không còn điều kiện thực hành và như vậy các nghi lễ liên quan tự nó cũng mất đi.

3.2. Tác Động Từ Chính Sách Quốc Gia Quan Hệ Xã Hội Xơ Đăng

Chính sách quốc gia ảnh hưởng mạnh mẽ đến không gian cư trú của người Xơ Đăng trải dài qua các giai đoạn đều tác động và làm biến đổi bố cục làng truyền thống cũng như kiến trúc đặc trưng của dân tộc Xơ Đăng. Mối liên kết Mối liên với Làng nông nghiệp Làng đô thị kết với môi môi trường trường tự Chính sách đô thị hóa của chính phủ tác động mạnh vào buôn làng Tây Nguyên nói chung và dân tộc Xơ Đăng nói riêng. Số liệu đô thị hóa từ kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 cho thấy: Vùng Tây Nguyên không phải là vùng đô thị hóa chậm. Cụ thể, tỉnh Lâm Đồng đứng ở trong top 10 tỉnh có tỷ lệ đô thị hóa cao nhất cả nước. Kon Tum với 33,8% đô thị hóa là tỉnh đứng vị trí thứ 13 trên phạm vi cả nước về đô thị hóa.

IV. Giải Pháp Tổ Chức Không Gian Kiến Trúc Thích Ứng

Xây dựng giải pháp tổ chức trong không gian làng Xơ Đăng để bảo tồn những giá trị cốt lõi và tăng cường khả năng thích ứng với điều kiện mới. Đối với làng Xơ Đăng, khả năng phục hồi quan trọng nhất là phục hồi trước thiên tai, sự biến đổi của môi trường tự nhiên. Sự thích ứng là thích ứng với chính sách mới, thích ứng về văn hóa và sinh kế mới. Phân loại làng theo các tiêu chí bảo tồn. Những làng đã mất đi nhiều thành phần truyền thống thì chuyển đổi sang mô hình nhóm ở. Tiêu chí đánh giá theo mức độ bảo tồn và phát huy giá trị. Để có khả năng phục hồi và thích ứng, làng cần được bố trí quỹ đất phát triển đủ lớn để ứng phó với sự biến đổi và phát triển nhưng không ảnh hưởng tới lõi làng truyền thống. Quy mô nhà ở dân tộc Xơ Đăng để phù hợp cuộc sống hiện đại nên chia thành những gia đình 2, 3 thế hệ. Bố trí khu đất chăn nuôi, trồng trọt đảm bảo đời sống khi gặp thiên tai, dịch bệnh.

4.1. Tiêu Chí Phân Loại Làng Theo Mức Độ Bảo Tồn Hiện Nay

Các làng bảo tồn: Chỉ có 1 tiêu chí biến mất và có từ 7/11 chỉ tiêu duy trì và ổn định; Các làng tái thiết: Chỉ có 1 tiêu chí biến mất; có 3-6/11 chỉ tiêu duy trì, ổn định và không quá 5/11 chỉ tiêu suy giảm; Các làng chuyển đổi: Có từ 2 tiêu chí biến mất và hơn 4/11 chỉ tiêu suy giảm. Các đồ án quy hoạch nông thôn mới hiện nay đánh giá hiện trạng theo sử dụng đất, hiện trạng sản xuất, hiện trạng công trình nhà ở và hạ tầng. Các đồ án chưa đánh giá đến yếu tố văn hóa, bản sắc trong hình thái không gian. Do vậy, tính đặc trưng của địa điểm, nơi chốn không được nhấn mạnh.

4.2. Giải Pháp Thích Ứng Bố Cục Không Gian Làng Cụ Thể

Các làng bảo tồn: Khoanh vùng lõi làng truyền thống để bảo tồn. Không gian phát triển làng Đảm bảo thích ứng với những nhu cầu người dân trong cuộc sống ngày này. Các làng tái thiết: Tái thiết lại lõi làng ở khu vực đầu làng với cổng làng, nhà rông, vườn hoa, quảng trường, có thể tái tạo bến nước và khu vực trưng bày các sản vật của làng. Trên thực tế, nhiều thôn bản đã xây dựng nhà trẻ gần nhà Rông. Một số dạng bố cục không gian ở mới trong làng bảo tồn và tái thiết. Về bố cục trong khuôn viên nhà ở bao gồm nhà sàn truyền thống và khu đất dành cho nhà mới để thích ứng với nhu cầu cuộc sống ngày nay và nhu cầu phát triển theo từng giai đoạn.

V. Đề Xuất Các Giải Pháp Chính Sách Quản Lý Phát Triển

Phát triển lâm nghiệp và các sản phẩm công nghiệp từ gỗ. Học tập các nước phát triển xây dựng các mẫu nhà gỗ bền vững, giảm rác thải khó xử lý. Cần đưa vào trong bản đồ quy hoạch địa phương một mục riêng, nhằm quy định sử dụng các loại vật liệu nguồn gốc sinh học tái tạo được. Cần xây dựng những bộ tiêu chuẩn hoặc quy định của địa phương này nhấn mạnh thêm vai trò của vật liệu trong các mục tiêu môi trường trong xây dựng. Chính sách phát triển du lịch sinh thái, trải nghiệm văn hóa. Chính sách phát triển các điểm dân cư sinh thái. Xây dựng các quy chế quản lý kiến trúc riêng cho từng khu vực đặc thù nhằm phát triển kiến trúc có bản sắc. Vận dụng các mô hình vào xã Đăk Na huyện Tu Mơ Rông.

5.1. Ứng Dụng Mô Hình Vào Xã Đăk Na Huyện Tu Mơ Rông

Qua khảo sát huyện Tu Mơ Rông, dựa vào các tiêu chí và loại hình đã nghiên cứu trong chương 2, huyện có tất cả các dạng bố cục làng của người Xơ Đăng. Trong 13 làng (thôn) thì có 13 làng xây dựng tương đối tập trung, chủ yếu dọc trên các trục đường TL678 và đường liên thôn. Hình thức bố cục làng Đăk Na được chia thành 4 nhóm: Nhóm có bố cục dạng răng lược và rễ cây 04 làng (Đăk Rế 1, Đăk Rế 2, Hạ Lăng 1, Long Tum). Nhóm có bố cục hình đa giác, hình móng ngựa có lõi làng 05 làng (Pa Ham, Lê Văng, Đăk Riếp 1, Đăk Riếp 2, Mô Bành1). Nhóm có bố cục tự do 02 làng (Hạ Lăng 2, Kon Sang). Nhóm làng tái định cư 02 làng (Kon Chai, Mô Bành 2)

5.2. Đề Xuất Chi Tiết Về Giải Pháp Không Gian Cho Xã Đăk Na

Đối với các làng bảo tồn bố trí các công trình hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật, đất ở mới bố trí ra khu vực thuận lợi ngoài lõi làng, đảm bảo bán kính phục vụ cho các khu dân cư 500m. Đối với các làng tái thiết bố trí các công trình hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật, đất ở mới theo hình thức xen cấy vào khu vực dân cư hiện hữu tại các vị trí đất bằng phẳng đảm bảo bán kính phục vụ cho các khu dân cư 500m. Kiến trúc truyền thống. * Đối với cộng đồng dân cư sinh sống tại các buôn làng truyền thống không gắn với đường giao thông chính, đề xuất mẫu nhà “trước sàn sau trệt”. * Đối với cộng đồng dân cư sinh sống tại các trục giao thông, sản xuất nông nghiệp kết hợp với bán các sản phẩm truyền thống, đề xuất mẫu nhà “trước trệt sau sàn”.

VI. Kết Luận Kiến Nghị Để Bảo Tồn Kiến Trúc Xơ Đăng Kon Tum

Luận án đã đúc kết thành những kết quả nghiên cứu chính như sau: Luận án đã khảo sát các làng bản dân tộc Xơ Đăng, đánh giá ra soát đề xuất giải quy hoạch tổng thể và một số kiến trúc nhà sàn theo quan điểm phù hợp với phong tục tập quan sinh sống của người dân. Trong thời gian qua, làng dân tộc Xơ Đăng có nhiều biến đổi và có nguy cơ mất đi những giá trị vốn có do những yếu tố: về chính sách quản lý, sự biến đổi các yếu tố tự nhiên, sự biến đổi về văn hóa tín ngưỡng. Đồng thời, tác giả cũng đánh giá, khái quát hóa những sự biến đổi của kiến trúc truyền thống dân tộc Xơ Đăng trên các phương diện: + Biến đổi về chức năng, bố cục + Biến đổi về vật liệu. + Biến đổi về kết cấu + Biến đổi về loại hình.

6.1. Những Phát Hiện Quan Trọng Về Quá Trình Biến Đổi Làng

Mô hình làng truyền thống theo dạng khép kín nên thiếu khả năng thích ứng, phục hồi và tính linh hoạt, do đó cấu trúc làng bị vỡ. Sự biến đổi hình thái không gian làng Xơ Đăng gồm các dạng sau: Thông qua các kết quả khảo sát, tổng hợp, dựa trên phương pháp luận về hình thái, tác giả đã tổng kết các dạng biến đổi của không gian làng: + Làng có lõi làng và khu vực phát triển; + Làng hình ô bàn cờ; + Làng hình răng lược; + Làng hình xương cá; + Làng hình rễ cây; + Làng thành nhóm ở đô thị (có bố cục tự do).

6.2. Các Kiến Nghị Để Phát Triển Bền Vững Làng Xơ Đăng

Luận án có 3 kiến nghị như sau: + Về quy hoạch tổ chức không gian làng: Cần tiếp tục nghiên cứu về mô hình quy hoạch, tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan làng dân tộc Xơ Đăng theo hướng bảo tồn và phát huy giá trị. + Về duy trì và phát triển kiến trúc truyền thống: Nghiên cứu phát triển các loại hình kiến trúc gỗ phù hợp với dân tộc Xơ Đăng trong quá trình phát triển, áp dụng cho các công trình kiến trúc dân tộc Xơ Đăng có nhiều giá trị đặc thù như nhà ở, nhà rông. + Về quản lý và phát huy giá trị truyền thống làng dân tộc Xơ Đăng: Nghiên cứu triển khai các mô hình du lịch sinh thái, trải nghiệm văn hóa và nông nghiệp nhằm cải thiện đời sống cho người dân Xơ Đăng.

20/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ KHÔNG GIAN LÀNG VÀ KIẾN TRÚC TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC XƠ ĐĂNG, TỈNH KON TUM 1. Khái quát chung về dân tộc Xơ Đăng vùng Tây Nguyên a. Lịch sử phát triển vùng Tây Nguyên Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1776), Tây Nguyên lúc đó được gọi là “Nước Nam Bàn” có khoảng 50 thôn nằm ở phía tây Phú Yên, có hai vua gọi là Hỏa Xá và Thủy Xá ngự trị. Người Pháp đã dành sự chú ý đặc biệt đến Tây Nguyên, trước khi sang xâm lược nước ta.

Cuốn sách Địa chí Gia Lai (1999) ghi lại: vào năm 1775, người Pháp đã sử dụng những đoàn truyền đạo đến vùng đất này để xây dựng các cơ sở tôn giáo chính trị. Sau khi chiếm Tây Nguyên vào năm 1898, thực dân Pháp đã lập ra chế độ trực trị, đặt Tòa Đại lý hành chính tại Kon Tum và ủy quyền cho linh mục Viallenton làm đại lý [33]. Nhà nghiên cứu Lưu Hùng viết trong cuốn “Buôn làng cổ truyền xứ Thượng” (1994) cho rằng thuở sơ khai tộc người Tây Nguyên thuộc hai ngữ hệ Nam Á (Môn Kheme) và Nam đảo (MãLaio-Poly nêdi) [25]. Theo một số tài liệu về dân tộc học cho thấy, một điều gây ngạc nhiên là số lượng dân tộc ở Tây Nguyên vẫn còn tranh cãi.

Có thể do quan điểm phân chia các tộc người của các nhà nghiên cứu khác nhau, nhiều dân tộc lại chia thành những nhóm nhỏ hơn nên đã dẫn tới sự không thống nhất này. Sự đa dạng của vùng đất Tây Nguyên vẫn còn nhiều bí ẩn để được khám phá. - Văn hóa, tín ngưỡng: +Tổ chức xã hội ở cấp cơ sở là các làng, buôn, bon, plei, non… + Chế độ mẫu hệ: Một nét văn hóa độc đáo và phổ biến ở các dân tộc Tây Nguyên là chế độ mẫu hệ. Chế độ mẫu hệ tồn tại trong dòng họ và gia đình Tây Nguyên từ hàng trăm năm nay, hình thành từ đặc điểm quần hôn nguyên thủy.

4 + Văn hóa cồng chiêng: Dân tộc Tây Nguyên có hai loại nhạc cụ chính là cồng và chiêng. Cồng làm bằng đồng có cái núm ở giữa, còn nếu phẳng, không có núm thì gọi là chiêng. Nhà nghiên cứu âm nhạc Bùi Trọng Hiền khẳng định giá trị nghệ thuật sâu sắc và độc đáo của cồng chiêng, khác với các nước khác. Chính những nét độc đáo này đã khiến Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Di sản phi vật thể thế giới [29].

- Hình thái định cư, không gian làng và kiến trúc truyền thống buôn làng Tây Nguyên Mật độ phân bố buôn làng và quy mô không chỉ gắn với yếu tố địa hình mà còn quan hệ tới trình độ kinh tế và mức độ ổn định cuộc sống, chia ra ba cấp độ chính như sau: + Các vùng canh tác rẫy trên địa hình kém thuận lợi, độ dốc lớn, phải du canh du cư luôn. Địa bàn của người Giẻ Triêng, Xơ Đăng. Làng họ thường nhỏ bé về dân số, nhà cửa tạm bợ. + Các vùng canh tác rẫy trên địa hình có điều kiện hạn chế việc du canh du cư (quỹ đất dồi dào, đất màu mỡ, ít dốc.

Điển hình là nơi cư trú của người Bahnar, Kbang, Mang Yang… Làng của họ khá đông dân, nhà cửa bền chắc, chỗ ở ổn định khoảng 20 đến 30 năm. + Các vùng canh tác lúa nước hoặc làm rẫy trên đất bằng, dốc nhỏ, làm nà thô. Tiêu biểu ở những khu vực này là người Jrai, Ê Đê, M’Nông… b. Lịch sử phát triển dân tộc Xơ Đăng Dân tộc Xơ Đăng cư trú trong các huyện Đăk Tô, Đăk Glây, Kon Plông và thành phố Kon Tum, thuộc tỉnh Kon Tum; huyện Trà My, tỉnh Quảng Nam và huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi.

Các các nhà khoa học nghiên cứu về nguồn gốc dân tộc thông qua ngôn ngữ cho thấy tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á - Xem hình 4)). Tuy nhiên, các ngôn ngữ của họ gần gũi với các cư dân Mông - Dao và một số nhóm Tạng - Miến, chứng tỏ xa xưa tổ tiên họ có thể ở quá về phía Bắc. Một giả thiết cho rằng tổ tiên người Chăm đã tách họ ra với tổ tiên người Việt - 5 Mường và sau đó những xung đột nội bộ của cư dân Môn - Khơ me, những cuộc xung đột với người Chăm (thế kỷ XII - XV), với người Lào (thế kỷ XVI), người Xiêm (thế kỷ XVIII - XIX), sự tràn lấn của các nhóm Môn - Khơ me như Cơ tu, Bru, Tà Ôi. từ Lào sang đã thu hẹp phạm vi cư trú của họ.

Họ tìm thấy một nơi sinh sống sau những thế kỷ biến động xung quanh vùng núi Ngọc Linh [23]. Dân tộc Xơ Đăng có khả năng đã có một cuộc thiên di lớn trong lịch sử từ phương Bắc nhưng ngày nay đã sinh sống ổn định dưới chân núi Ngọc Linh, Tây Nguyên. Theo Tạp chí Dân tộc và Phát triển, dân tộc Xơ Đăng bao gồm các 5 nhóm người [4]. - Cấu trúc làng Xơ Đăng truyền thống cũng đã được nghiên cứu trong một số tác phẩm kinh điển [25, 85, 84, 90].

Qua đó, cấu trúc làng Xơ Đăng truyền thống có những dạng sau: Các kiểu cấu trúc làng truyền thống của dân tộc Xơ Đăng làng gốc được hình thành bố cục theo hình bầu dục hay hình vành khuyên, với các biến thể dạng hình vuông, hình chữ nhật hay đa giác, hình rẽ quạt hướng tâm hay hình móng ngựa. Kiểu làng có cấu trúc hình tròn. Hình 1: Cấu trúc truyền thống (Ng: Tác giả) Hình 2: Cấu trúc một nóc trung tâm (Ng:Tác giả) 6 b. Kiểu làng có cấu trúc theo hình móng ngựa Hình 3: Cấu trúc hình móng ngựa (Ng: tác giả) Hình 4: Nóc Măng Tó xã Trà Cang (Ng: tác giả) Hình 5: Làng Đak Chum xã Tu Mơ Rông (Ng: Hình 6: Làng Nước Min xã Sơn Mùa tác giả) (Ng: tác giả) c.

Cấu trúc hình bầu dục Hình 7: Cấu trúc hình bầu dục (Ng: tác giả) Hình 8: Cấu trúc hình đa giác (Ng: tác giả) - Kiến trúc truyền thống 7 a. Nhà Rông Nhà Rông của người Xơ Đăng là ngôi nhà sàn rộng, mái cao, nhìn từ xa như lưỡi rìu dựng ngược có kết cấu gồm hai mái chính có độ dốc không lớn. Nóc và mái nhà Rông có hình chim chèo bẻo hay sừng thú chót vót ở hai đầu dốc. Nhà mồ: Các tộc người trên vùng đất Tây Nguyên, nhà mồ và tượng mồ là một trong những văn hóa tâm linh đặc sắc.

Tuy nhiên, dân tộc Xơ Đăng không có lễ bỏ mả và tượng nhà mồ. Khu nghĩa địa là địa vực được lựa chọn bởi chính người đang sống dựa trên nguyên tắc về địa vực cư trú của người Xơ Đăng. Nhà ở Nhà ở truyền thống của người Xơ Đăng gồm 2 loại: Nhà sàn dài, nhà sàn ngắn, 1. Thực trạng không gian làng và kiến trúc truyền thống dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Kon Tum Người Xơ Đăng cư trú tập trung tại các tỉnh: Kon Tum: 133.

Trong đó hai huyện Đăk Hà và Tu Mơ Rông có số dân Xơ Đăng đông nhất. Nhìn chung, cấu trúc làng truyền thống hiện nay đã có nhiều biến đổi bởi các yếu tố cốt lõi đã thay đổi. Bố cục nhà ở làng Xơ Đăng ngày nay khá tự do. Các nhóm nhà hình thành bám theo hệ thống giao thông.

-Thực trạng kiến trúc truyền thống dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Kon Tum Ngoại trừ nhà sàn dài, nhà rông và nhà sàn ngắn vẫn được duy trì trong tộc người Xơ Đăng. Tuy nhiên, hình dáng và vật liệu xây dựng đã bị biến đổi. Tỷ lệ nhà sàn, nhà Rông được xây dựng theo phong cách truyền thống ngày càng giảm. - Các tồn tại và thách thức Hiện nay, trong xu hướng giao lưu toàn cầu, nền kinh tế thị trường cùng với việc phủ kín quy hoạch với chủ chương kết nối liên thôn, liên xã, đồng bộ hạ tầng, cộng đồng Xơ Đăng không còn là nhóm người khép kín mà cũng đã hòa nhập cùng với nhịp sống chung của cộng đồng khác.

Việc khai thác nguồn tài nguyên thiên 8 nhiên trong xây dựng và sinh kế đã được kiểm soát chặt chẽ. Những yếu tố này đã làm biến động yếu tố cốt lõi trong xã hội, hình thái và cả diện mạo của buôn làng Xơ Đăng. Sự biến động này đã bắt nguồn từ những giai đoạn trước đây và cần được tìm ra đặc điểm vận động của nó. Từ đó định hướng và tìm ra mô hình không gian làng thích ứng với sự phát triển và bảo tồn những giá trị cốt lõi.

Các nghiên cứu có liên quan Những nghiên cứu chuyên sâu về dân tộc Xơ Đăng không nhiều. Những nghiên cứu này thường nằm trong các công trình nghiên cứu chung về DTTS Tây Nguyên. Các công trình chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực cụ thể của nghi lễ như: văn hóa, tập quán, tín ngưỡng các nghi lễ vòng đời người, nghi lễ nông nghiệp, nghi lễ cộng đồng,. vấn đề không gian cư trú và kiến trúc truyền thống chỉ được đề cập đến một phần nhỏ chủ yếu là miêu tả, ghi chép chưa đề cập đến các giải pháp, đề xuất cụ thể.

Các công trình khoa học cũng thiếu đi những phân tích về sự biến chuyển của tộc người Xơ Đăng qua từng thời kỳ mà chỉ ghi lại đặc điểm thực trạng tại thời điểm nghiên cứu. Quá trình biến đổi sẽ giúp cho việc phát hiện được đặc điểm của sự vận động. Từ đó có những giải pháp bền vững bởi bất cứ sự tác động trái quy luật đều dẫn đến sự phá hủy. Trong nhiều khoảng trống đối với nghiên cứu khoa học về các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Kon Tum, thì không gian cư trú và kiến trúc truyền thống vẫn là vấn đề cấp thiết cần được chú trọng.

Đa số các công trình và bài viết đã công bố mới chỉ giới thiệu sơ lược về một số hình thức ghi chép miêu tả không gian cư trú và kiến trúc truyền thống của người Xơ Đăng mà thiếu đi sự so sánh giữa truyền thống và hiện tại. Do đó, việc tiếp tục thực hiện công trình nghiên cứu tổng quát và có hệ thống về sự không gian cư trú và kiến trúc truyền thống của dân tộc Xơ Đăng là cần thiết phải bổ sung. Xác định những vấn đề cần nghiên cứu - Vậy đặc điểm của sự biến đổi không gian và kiến trúc truyền thống của dân tộc Xơ Đăng là như thế nào?. - Tiêu chí nào để đánh giá sự biến đổi đó? - Giải pháp, mô hình không gian làng nào tộc người Xơ Đăng đồng thời bảo tồn những giá trị cốt lõi nhưng vẫn thích ứng với tiến trình phát triển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ