Chương 1: Tông quan về dòng chảy môi trường và các nghiên cứu về sông Đáy từ khi có công trình phân lũ sông Đáy. Chương 2: Nhận diện các tác động tiêu cực của công trình phân lũ sông Đáy tới dòng chảy và môi trường nước sông Đáy đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá. Chương 3: Xác lập cơ sở khoa học khôi phục dòng chảy, cải tạo môi trường sông Đáy đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá. & aA Ket luận Chương Í TONG QUAN VE DONG CHAY MOI TRƯỜNG VÀ CÁC NGHIÊN CỨU VE SONG DAY TU KHI CO CONG TRINH PHAN LU SONG DAY.
Một số bai học kinh nghiệm về sự can thiệp quá giới hạn của con người vào dòng chảy sông ngòi: Từ khi xã hội loài người hình thành, con người luôn đấu tranh và thích nghỉ với tự nhiên đề tồn tại và phát triển. Ở vùng châu thổ của các con sông lớn trên thé giới như châu thô sông Hoang Ha (Trung Quốc), châu thé sông Hang (An Độ), châu thé sông Nin (Ai Cập) và các châu thé các sông khác thi cuộc dau tranh và thích nghỉ giữa con người với dòng sông được thẻ hiện rất rõ nét. Thực chất của cuộc đấu tranh và thích nghỉ này chính là giảm thiêu các mặt hại của dòng sông như: lũ lụt, xói lở, bồi lấp. và khai thác các mặt lợi như: nguồn nước phù sa, giao thông thuỷ, thuỷ sản, năng lượng dòng chay.
Dé ngăn ngừa các tác hại của lũ lụt, con người đã xây dựng hệ thong đê bao chóng lũ dọc các triền sông. Dé khai thác nguồn nước với mục dich cấp nước và khai thác thuỷ điện, người ta đã xây dựng các đập ngăn sông tạo hồ chứa nước. Dé chỉnh trị dòng sông với mục đích khác nhau người ta sử dụng các phương án cắt dòng, uốn dòng, chuyên dòng, thậm chí đào con sông mới. Tuy nhiên nếu khai thác vừa phải, hài hoà thân thiện với tự nhiên thì hiệu quả hữu ích gia tăng, nếu khai thác quá mức, can thiệp quá giới hạn vào dòng sông thì sẽ gây tác động bất lợi tới xã hội và môi trường.
Một số ví dụ sau đây cho thay hậu quả từ những can thiệp vượt quá giới han của con người vao dong sông tự nhiên: a. Van dé xáy dựng dé bao chong lũ: Dién hình cho cuộc đâu tranh giữa con người với lũ lụt là hệ thong dé bao chong lũ dọc các trién sông lớn ở Trung Quoc, An Độ, Việt Nam. được xây dựng từ hàng ngàn năm trước đây. Sau nay con người tiép tục tu bô, gia cường, ton cao dé cho đê chong được các con lũ lớn hơn.
Hậu qua đưa lại từ 10 những con dé đó là mực nước sông dang cao, bùn cát lang đọng trong lòng sông, đáy song tăng lên và tạo thành các “dong sông treo”. Mực nước trong sông cao hơn nội đồng có nơi lên tới 7m=10m như ở đồng bằng sông Hồng (Việt Nam) và từ 8m+12m như ở đồng bang sông Hoàng Ha (Trung Quóc). Mực nước sông dâng cao luôn kèm theo hiểm hoạ vỡ đê mà thực tế đã xảy ra rat nhiều nơi trên thé giới cũng như ở Việt Nam. Một tác động bat lợi khác của dé bao chóng lũ la ngăn cách nguồn phù sa tự nhiên làm khô căn hoá vùng dong bằng bồi tụ của chinh con sông đó tạo ra.
Ví dụ như ở lưu vực sông Nin, sông Hoàng Hà có rất nhiều vùng đang bị sa mạc hoá do không có nguồn nước tự nhiên cung cấp, không có nguồn phù sa nuôi dưỡng. Đất đai ở đồng bằng sông Hồng do đê chống lũ ngăn cách nguồn nước tự nhiên nên ngày càng suy kiệt dinh dưỡng bởi thiéu nguồn phù sa màu mỡ của sông Hồng. Ngay từ năm 1940, trong tác phẩm "Sử dụng đất ở Dong Dương thuộc dia" Pierre Gourou đã nhận định rằng: "châu thổ Bắc Bộ đã chết trong tuổi vị thành niên của nó" (Pierre Gourou [16]). Nhận ra thực trạng này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trong những năm gan đây da cho xây dựng một số cống lấy phù sa ven sông Hồng.
Cống được mở vào mùa lũ để cấp nước có nhiều phù sa cho các hệ thống thuỷ nông dé đưa vào đồng ruộng đang thiếu nguồn dinh dưỡng tự nhiên từ phù sa. Đây cũng là điểm chúng ta cần suy nghĩ cho việc xây dựng hệ thống bờ bao, đê bao ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay. Có thê chúng ta được những cái trước mắt song chúng ta lại mat rất nhiều vẻ lâu dài. Van dé xáy dựng các hô chứa, đập dang : Theo các tư liệu lịch sử, việc xây đập và hồ chứa đã bát đầu từ hơn 5.000 năm trước, điển hình là ở Ai Cập, Trung Quốc (Park Ch.
Đến năm 1986, trên thế giới đã có khoảng 36.000 đập lớn, trong đó 2/3 tập trung ở Chau A mà chủ yếu là ở Trung Quốc. Tuy đưa lại các hiệu ích tích cực rất lớn song các công trình đập, hồ chứa không phải là không có các tiêu cực. Như ở Việt Nam, sau ngày thống nhất, Nhà nước ta đã rất chú trọng đến xây dựng các đập, hồ chứa để phục vụ cho cấp nước, chống lũ, phát điện như công trình thuỷ điện Thác Bà trên sông Chảy, đập thuy điện Hoà Bình trên sông Đà, đập 11 dang Thạch Nham trên sông Trà Khúc, công trình Dầu Tiếng trên sông Sai Gòn, v. Các công trình này đã đem lại những lợi ích rất to lớn, song các ảnh hưởng của chúng đến môi trường khu vực cũng là rất đáng kể, trong đó có khu vực hạ lưu đập.
Sau khi có đập dâng Thạch Nham, đoạn sông Trà Khúc ở hạ lưu đập đến cửa Cổ Luỹ đã bị mặn xâm nhập lấn sâu vào trong sông, cùng với sự ô nhiễm môi trường đã làm cho loài cá bống - một đặc san của sông này "cá bống sông Trà” bị suy giảm, bờ sông bị xói lở mạnh, cửa sông bị bồi nông hơn (Lê Thạc Cán [10]). Hai bên bờ sông Đà, sông Hồng ở hạ lưu đập Hoà Bình, đặc biệt là đoạn Sơn Tây - Hà Nội, trong các năm qua đã xảy ra xói lở bờ rất nghiêm trọng, nhiều như khu vực dân cư đông đúc đã bị sạt lở, nhà cửa sụp đổ xuống sông như Phong Vân (Ba Vì) năm 2003, Minh Nông, Tân Đức (Việt Trì) năm 2001, Trung Hà (Vĩnh Phúc) năm 2002, Cẩm Đình (Hà Tây) năm 2001.Nguyén nhân là do xói phổ biến lan truyền ở vùng ha du đập Hoà Bình. Van đề chặn dong, cắt dòng, chuyển dòng và khôi phục các con sông Trong những năm 50-60 của thé kỷ 20, người Mỹ đã mac một sai lầm khi chuyển một phần lưu lượng của một dòng nhánh sông Colorado thông qua việc xây dựng đập Glen Canyon để lấy nước cấp cho một thành phố công nghiệp thuộc bang Colorado đã làm cho điều kiện tự nhiên của nhánh sông này bị mất cân bằng, ảnh hưởng tới môi trường trong khu vực. Mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng đến nỗi vào những năm 80 của thế kỷ này, người ta đã phải điều chỉnh, khôi phục lại dòng sông cũ, trả lại chế độ dòng chảy tự nhiên ban đầu.
Con sông trở nên nổi tiếng sau khi được khôi phục là sông Cheonggyecheon ở Hàn Quốc. Trong lòng Seoul rộng 607km” với 10,5 triệu dân cùng với nhịp sống công nghiệp hiện đại, một con sông rất đẹp đã được tái tạo, đem lại bộ mặt tươi mát, đầy ắp không khí thiên nhiên. Cheonggyecheon vốn là một con suối dài 3.670m, có chiều rộng toi đa là 84m, chạy từ hợp lưu Seongbukcheon đến hợp lưu Jungnangcheon. Có 24 cây cầu bắc ngang Cheonggyecheon hau hết được xây từ triều đại Joseon nhưng theo thời gian đã bị bồi lấp.
Con sông Cheonggyecheon là con sông chết. 12 Năm 2003, chính quyền Seoul quyết định tái tạo và khôi phục Cheonggyecheon. Day là dự án khôi phục và chính trang đô thị lớn nhất lịch sử Hàn Quốc cho thành pho Seoul 600 nam tudi nay. Cheonggyecheon khéng chi dem lai hinh anh thién nhién tuoi mat vé cảm quan mà còn có gia trị hữu dụng thực tế khi nó trở thành cái máy điều hòa không lò đem lại hơi thở trong lành cho Seoul.
Trước khi công trình xây dựng, nhiệt độ quanh khu vực dọc theo các cây cầu Cheonggyecheon thường cao hơn ít nhất 5°C so với nhiệt độ trung bình Seoul. Cheonggyecheon đã giúp hạ nhiệt 3,6°C cho Seoul. Đồng thời gió trong khu vực thôi nhanh gấp hai lần, làm cho nông độ bụi lẫn CO; đều giảm rõ rệt. Hiệu quả của dòng chảy môi trường do tái tạo lại sông Cheonggyecheon là hết sức thuyết phục.
Việc chỉnh trị, khai thác, mở thêm hoặc lấp đi một số nhánh sông của Amuadaria và Sưdaria ở miền Trung A - Liên Xô vào những năm 50-60 của thế kỷ trước, nay đã phải trả giá. Ở rất nhiều khu vực trước đây màu mỡ trù phú nay đã trở thành sa mạc. Khu vực thượng lưu Sưdaria trước đây có rất nhiều các khu dân cư sam uất, các bến cảng sôi động, các khu nghỉ mát nồi tiếng nhưng đến nay khi dòng chảy không còn, thì các hoạt động kinh tế và dân sinh đó cũng mắt theo, tat cả trở thành hoang phé. Ở Việt Nam, năm 1980 chúng ta xây dựng đập Đình Vũ (Hải phòng) với ý định dồn hết nước qua cửa Cam dé hạn ché bồi lap cảng Hải Phong nam ở cửa này.
Từ đó, công trình Đình Vũ đã làm cho cả một vùng rộng lớn ở hạ lưu trở thành hoang hoá do không có nguồn nước làm mat cân bang tự nhiên và sinh thái khu vực. Có ý kiến cho rằng cần dỡ bỏ đập Đình Vũ trả lại cho tự nhiên dòng chảy vốn dĩ của nó dé khôi phục lại hệ sinh thái và cân bằng nước cho khu vực. Trong lich sử Việt Nam, vào thế ky 18 và 19, việc khơi dòng, lap dòng các con sông đã dé lại những hậu quả nghiêm trọng vả là bài học kinh nghiệm cho chúng ta ngày nay. Sông Hồng là con sông lớn có nhiều sông nhánh: sông Ca L6 tách ra ở Vĩnh Yên, sông Thiên Đức (sông Đuống) tách ra ở Hà Nội, sông Cửu An tach ra ở Nghi Xuyên — Hưng Yên.
Các cửa sông này thường bị 13 boi lắp không tiêu thoát được lù cho sông Hong. Dưới triều Tự Đức và Minh Mang, triều Nguyễn đã cho khơi mở cửa vào sông Cửu An với hy vọng tiêu thoát lũ cho sông Hồng (1832-1847) song kết quả không như mong muốn. Việc tiêu thoát lũ qua sông Cuu An lại gây ngập lụt nghiêm trọng cho các tỉnh Hưng Yên, Hai Dương và gây vỡ đê sông Cưu An mà tình hình lũ trên sông Hong van rat căng thăng.