Chương 1. Cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu lao động 1. Cơ cấu Cơ cấu là phạm tra triết hoc thé hiện cấu trúc bên trong cũng như tỉ lệ và mỗi quan hệ giữa các bộ phận cấu thành một hệ thống. Cơ cấu là thuộc tính của một hệ thống nhất định [26].
Theo từ điển Tiếng Việt và từ điển Bách Khoa Việt Nam thì cơ cấu là tổ chức do nhiều bộ phận hợp thảnh. Chuyển dịch cơ cầu Chuyển dịch cơ cấu hiểu là sự thay đổi giữa các bộ phận trong một tổng thẻ. Nội dung chính của việc chuyển dịch là cải tạo cơ cau cũ, lạc hậu hay chưa phủ hợp để xây dựng cơ cấu mới, tiên tiến đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kì mới [26]. Cơ cấu lao động 1.
Khái niệm về nguồn lao động Nguồn lao động bao gồm những người trong độ tuôi lao động (ở nước ta quy định: nam từ 16 - 60, nữ từ 16 - 55) có khả năng lao động, có nghĩa vụ lao động va những người ngoài độ tuôi trên nhưng vẫn tham gia lao động (gọi là lao động dưởi độ tuổi và trên độ tuổi). Không tính vào nguồn lao động những quân nhân đang tại ngũ. các học sinh, sinh viên đang đảo tạo tại trường [24]. Nguồn lao động là nhân tố hàng đầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, có ảnh hưởng quyết định đến việc sử dụng các nguồn lực khác.
Tat cả của cải vật chất vả các giá trị tinh than để thỏa thỏa man nhu cầu của xã hội do con người sản xuất ra. Nguồn lao động bao gồm bộ phận dân số trong độ tuổi theo quy định có khả nang tham gia lao động. Xong không phải bắt cứ ai cũng cỏ thể tham gia sản xuất mà chỉ cd một bộ phận dân số có đủ sức khỏe vả trí tuệ ở vào độ tuổi nhất định, thông thường từ 15 đến 59 tuổi. Như vậy, số lượng nguồn lao động của mỗi quốc gia phụ thuộc vào hai yếu tố: khả nang tham gia lao động của từng cá nhân và quy định vẻ độ tuổi lao động của quốc gia đó.
8 Nguồn lao động là toản bộ những người đủ 15 tuổi trở lên có việc lam va những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng dang thất nghiệp, đang đi học. đang làm nội trợ trong gia đình hoặc chưa nhu cầu làm việc. Nguồn lao động được quy định bởi quy mô. cơ cấu dân số theo tuổi và giới tinh, sự phân bố của nó theo lãnh thé, Hiện nay trên thé giới, tỉ lệ dan số trong độ tudi lao động chiếm 63% dân số, trong đó các nước phát triển là 62%, các nước đang phát triển là 59%.
Cùng với xu hướng giảm sinh va tăng tuôi thọ thì tỉ lệ dân số trong độ tuôi lao động so với tổng dân số ngảy cảng tảng lên. Trong thực tế, không phải mọi người trong độ tuổi lao động đều tham gia hoạt động kinh tế (HDKT) và ngược lại, không phải cứ ngoài độ tudi lao động thi không tham gia HĐKT. Vi vậy cần phải phân tích thêm mức độ tham gia HDKT của ngudn lao động. Theo kiến nghị của Liên Hiệp Quốc.
nguồn lao động được chia làm hai bộ phận: dân số HĐKT và dân số không HĐKT.1: Sơ đề nguồn lao động và dân số HDKT Trong độ tuôi lao động Ngoài độ tuôi lao động Nguồn: [26] O nước ta Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã đưa ra định nghĩa: - Dân số HĐKT bao gồm toàn bộ những người từ 15 tudi trở lên đang cỏ việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc. - Dân số không HĐKT bao gồm toản bộ số người từ đủ tuổi lao động trở lên nhưng không tham gia vào HDKT vì các lí do: đang di hoc, dang làm việc nội trợ cho bản thân và gia đình, không có khả năng lao động (mất sức, ốm đau.) vả 9 những người khong có nhu cầu lam việc (được hưởng lợi tức, hưởng thu nhập ma không lam việc). Nhìn chung, tỉ lệ dân số HDKT so với dan sé trong độ tuổi lao động va so với tổng dân số nói chung có sự khác nhau giữa nam và nữ, giữa thành thị và nông thôn, giữa các nước vả các khu vực với trình độ phát triển kinh tế xã hội khác nhau. Điều đó phụ thuộc chặt chẽ vào cơ cấu tuổi của dân số, vào đặc điểm kinh tế xã hội và khả năng tạo việc làm cho người lao động trong độ tuổi lao động.
Đây là bộ phận tích cực vả năng động của dân số và là lượng quyết định cho sự phát triển của một quốc gia. Hiện tại thế giới có khoảng 2,9 tỉ người đang tham gia HDKT, chiếm 77% dân số trong độ tuổi lao động. trên 48% tổng dân số. Trong hơn hai thập ki qua, dân số HĐKT đã tăng thêm 900 triệu người, chủ yếu là nhờ thu hút lao động nữ vào HĐKT [26].
Còn ở Việt Nam, vào thời điểm điều tra 1/9/2009, dân số là 86.500 người trong đó có 57,2% dân số HDKT (hay còn gọi là lực lượng lao động). Số lao động có việc làm chiếm 97,4% lực lượng lao động trong khi số lao động thất nghiệp chỉ chiếm một tỉ trọng khiêm tốn là âm 2,6% (tương đương gan 1,3 triệu lao động) (3]. Vai trò của nguồn lao động trong phát triển kinh tế Nói đến vin dé dân số, lao động và sự phát triển la nói đến vai trò của người lao động trong sự phát triển. Dé có quá trình lao động diễn ra phải có ba yếu tố cơ bản là tư liệu lao động, đếi tượng lao động và người lao động.
Như vậy, nếu thiếu yếu tô con người thi tư liệu lao động và đối tượng lao động chí là vật chết. Chính yếu tố con người mới làm sống lại tư liệu sản xuất thông qua việc đưa chúng tham gia vào quá trình sản xuất. Người lao động là yếu tố động nhất, cách mạng nhất của quá trình sản xuất, là động nhất bởi yếu tố con người thường xuyên biến động theo xu hướng ngày cảng giảm chỉ phí lao động cho việc sản xuất sản phẩm, cách mạng nhất là ở chỗ con người tạo ra máy móc, thiết bị - tiền dé cho cách mạng ki thuật và làm thay đổi trạng thái xã hội. Dé tồn tại và phát triển con người phải được đáp ứng những nhu cầu nhiều mặt về vật chất va tinh thần.
Sự tiêu dùng của con người không chi là tiêu hao kho tàn vật chất va văn hóa do con người tạo ra, mà chính la nguồn gốc của động lực phát triển xã hội. Để không ngừng thỏa mãn nhu cầu vật chất, tỉnh thần ngày cảng được nâng cao về số lượng và chất lượng, con người cảng phải phát huy đây đủ hơn nữa 10 khả nang thẻ lực vả tri lực cho việc phát triển không ngừng kho tan vật chất. Chính vì vậy. sự tiêu dùng của con người.
sự đáp ứng ngày càng tốt hơn những nhu cau của con người là động lực của sự phát triển [16]. Trong số các nguồn lực thì nguồn lao động có ý nghĩa đặc biệt. Lịch sử nhân loại đã chứng minh vai trò quyết định của lao động đối với việc phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn lao động không chi tạo nên của cải vật chất nuôi sống nhân loại ma còn sáng tạo ra công nghệ.
thiết bị va sử dụng chúng vào quá trình sản xuất. Như vậy, vai trò đặc biệt của nguồn lao động thé hiện chủ yếu ở một số khia cạnh sau đây: - Nguôn lao động là nhân tố quyết định việc tái tao, sử dụng và phát triển các nguồn lực khác. Điều đó đã được khang định vẻ cả phương diện lí luận lẫn thực tiễn. Ngay ở Việt Nam, Dang và Nha nước cũng đã chi rd, mục tiêu va động lực phát triển kinh tế - xã hội lả vi con người và do con người.
- Nguồn lao động vừa là động lực tạo ra của cải vật chất, vừa là nguồn tiêu thụ các sản phẩm va dịch vụ xã hội. Nói cách khác, nguồn lao động tạo nên cá "cung" lẫn “cầu” của nẻn kinh tế đồng thời trực tiếp điều tiết mối quan hệ này liên quan với các thể chế kinh tế - xã hội do con người đặt ra [26). Trong điều kiện nước ta hiện nay, lực lượng lao động có những mặc hạn chế. Một mặt nó làm tăng khỏi lượng tiêu dùng, gây khó khan cho việc ôn định đời sống nhân dan và mặt khác nó tạo nên sự căng thẳng trong việc sắp xếp việc làm cho người lao động.
Chất lượng nguôn lao động Trong điều kiện hiện nay. chất lượng nguồn lao động được đặc biệt quan tâm. Khi nhân loại bước sang thiên niên ki thứ ba của nền kinh tế tri thức rõ rang không nguồn lực nào có thé thay thế được nguồn lao động chất lượng cao {26]. Nguồn lao động.
bao gồm cà lực lượng lao động giản don, lao động kĩ thuật, lao động tri óc. Trong giai đoạn khoa học vả công nghệ đã trở thành bộ phận trực tiếp của lực lượng sản xuất thì nguồn lao động di là giản đơn cũng đòi hỏi phải có trình độ kiến thức đủ mức cần thiết. Trinh độ công nghệ của sản xuất cảng cao thi vai trò của trị thức càng phải tăng cường. Cấu thành chất xám trong kết quả sản xuất và hoạt động của xã hội ngay cảng tăng lẻn.
11 Chất lượng nguén lao động được hiểu theo hai nghĩa: - Dưới góc độ cá nhân đó là khả năng lao động của họ (sức khỏe. trình độ học van, trình độ chuyên môn.) - Dưới góc độ quốc gia, chất lượng nguôn lao động được xem xét trong tổng thẻ gắn với nhu cầu của thị trường lao động ở mỗi thời kì. Dưới góc độ nao nó đều chịu sự chỉ phối của hàng loạt các nhân tô. Đó là nhân tổ liên quan đến thé chất của nguồn lao động (di truyền.
chăm sóc sức khỏe, môi trường); nhân tế gan liên với nâng cao trình độ (giáo duc - dao tạo. dạy nghề): nhân tổ cơ chế, chính sách và một số nhân tế khác (nhu cầu làm việc của xã hội. truyền thống, văn hóa mỗi dân tộc). Chất lượng nguồn lao động phụ thuộc vảo trình độ của lực lượng lao động.
Đặc biệt trong thời đại ngày nay, trình độ chuyên môn kĩ thuật của người lao động được quan tâm hàng đầu ở mỗi quốc gia [26]. Trinh độ chuyên môn: là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn nào đó, nó thể hiện trình độ được đào tạo ở các trường chuyên nghiệp có khả năng chỉ đạo. quản lí một công việc thuộc vé một chuyên môn nhất định.