LỜI NÓI ĐẦU Tiếng Hán trong mười năm trở lại đây đã thực sự gây nên ―cơn sốt‖ tại Việt nam. Bạn có thể bắt gặp chữ Hán ở bất kỳ nơi nào ở đất nước này, từ những nơi linh thiêng nhất như chùa chiền, miếu mạo hay những biển hiệu cửa hàng hiện đại nơi đô thị và gần gũi hơn nữa là những đồ dùng nhu yếu phẩm hàng ngày như quần áo, bao bì thực thẩm, thuốc men. Những bộ phim truyền hình dài tập Trung Quốc như món ăn tinh thần không thể thiếu mỗi tối lại kéo các thành viên gia đình quay quần bên máy thu hình. Cùng với sự phát triển của hợp tác kinh tế quốc tế, lượng công ty, doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào Việt nam nói chung và Hải phòng nói riêng không ngừng tăng lên.
Đáp ứng yêu cầu ―Đào tạo theo nhu cầu xã hội‖, các trường Đại học mở rộng quy mô liên kết đào tạo với Trung Quốc, Đài Loan; các trung tâm Ngoại ngữ mọc lên như nấm sau mưa; các lớp Hán ngữ liên tục chiêu sinh nhằm đáp ứng nhu cầu của người học. Ở Đại học Dân lập Hải phòng (HPU), tiếng Hán đứng sau ngôn ngữ toàn cầu Tiếng Anh và trở thành một trong hai ngoại ngữ được sinh viên lựa chọn, nhằm tăng cơ hội tìm kiếm việc làm và muốn tìm hiểu sâu hơn về lịch sử văn hóa lâu đời của đất nước Trung Quốc láng giềng. Tuy vậy, sinh viên ngay từ những bài đầu của học phần 1 đã cảm nhận ngay được sự khó khăn khi lần đầu tiên thực sự bắt tay vào học loại văn tự tượng hình này bởi những đặc điểm vốn có của nó như: khó nhớ, khó đọc, khó viết với lượng chữ quá nhiều, cấu tạo phức tạp, âm đọc không theo quy luật. Những ấn tượng về nét ―phương múa rồng bay‖ của thư pháp chữ Hán bị thay thế bởi những cách viết như ―vẽ chữ‖, nguệch ngoạc, sai kết cấu, nét nọ ghép với nét kia.
Chữ Hán của các em chưa được đánh giá cao bởi tỷ lệ chữ viết sai, viết xấu khá nhiều với các lỗi sai khác nhau. Có những em yêu thích luyện viết chữ Hán song không được luyện tập bài bản nên thiếu sự kiên trì và chữ Hán viết cũng thiếu chính xác. Mặt khác, chất lượng chữ Hán của sinh viên cũng phản ánh phần nào những hạn chế của chương trình giảng dạy nói chung và phương pháp truyền đạt của giáo viên nói riêng. Vì vậy, với tư cách là giáo viên Hán ngữ, tôi mong muốn được tìm hiểu sâu về thực trạng học và viết chữ Hán của sinh viên học Hán ngữ cơ sở 1 tại trường Đại học Dân lập Hải phòng, trên cơ sở đó đề xuất ra các phương pháp và thủ thuật dạy học phù hợp với sinh viên cũng như giáo viên nhằm nâng cao trình độ viết chữ Hán của các em.
Khái quát về chữ Hán 1. Đặc điểm chữ Hán dưới góc độ của người Việt Nam học tiếng Hán Chữ Hán bắt nguồn từ Trung Quốc từ thời xa xưa dựa trên việc quan sát đồ vật xung quanh và vẽ thành dạng chữ tượng hình. Chữ Hán đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển. Cho tới hiện nay, chữ Hán cổ nhất được cho là loại chữ Giáp Cốt (Giáp Cốt Tự 甲骨字), chữ viết xuất hiện vào đời nhà Ân (殷) vào khoảng thời 1600-1020 trước Công Nguyên.
Chữ Giáp Cốt là chữ Hán cổ viết trên các mảnh xương thú vật và có hình dạng rất gần với những vật thật quan sát được. Chữ Hán không phải là loại văn tự cổ xưa nhất thế giới, song hình thức viết trong ô vuông rất đặc biệt đã khiến chữ Hán trở nên hấp dẫn, thần kỳ đối với những người nước ngoài khi tiếp xúc và sử dụng nó. Đến nay, tiếng Hán tự hào là ngôn ngữ được số đông người sử dụng nhất trên thế giới và luôn chứng tỏ được sức sống mãnh liệt của nó. Ở góc độ người Việt Nam mới học tiếng Hán, sự hiểu biết cơ bản về đặc điểm ba nhiều ba khó(三多三难)của chữ Hán trên cơ sở đối chiếu, so sánh với tiếng mẹ đẻ của quốc gia mình, thiết nghĩ là điều vô cùng cần thiết.1 Số lượng chữ quá nhiều(汉字数量巨大) Bảng chữ cái Tiếng Việt của chúng ta chỉ có 29 chữ cái, ghép lại với nhau cũng chỉ được khoảng gần 52.000 từ và ngữ (Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nguyễn Lân, NXB Tp.
Hồ Chí Minh, 1998). Vậy mà, theo số liệu gần đây nhất được các chuyên gia ngôn ngữ của chính phủ Trung Quốc thẩm định, hiện kho chữ Hán có nguồn gốc thu thập được đã lên tới 91.251 chữ, chưa kể các chữ này còn có thể kết hợp với nhau để tạo thành vô số từ ngữ khác. Cùng với xu thế phát triển của đời sống xã hội và xu thế giao lưu hợp tác quốc tế như ngày nay, ngôn ngữ cũng đang không ngừng ―cập nhật‖, lượng chữ Hán cũng vì vậy mà 2 không ngừng phát triển, bổ sung thêm nguồn chữ Hán các nước láng giềng như Singapo, Việt Nam, Malaysia, Hàn Quốc, Nhật Bản….Theo cuốn 《现代汉语常用字表》hiện số chữ thường dùng khoảng 3.500 chữ, khi bạn nắm vững được lượng chữ này, những chữ bạn không thể nhận biết được khi đọc báo chí, tài liệu chỉ khoảng 1%. Nếu bạn là người nước ngoài du học tại Trung Quốc trong 4 năm, lượng chữ Hán bạn phải biết là 2905 chữ, lần lượt theo các cấp độ A 800 chữ, B 804 chữ, C 601 chữ, D 700 chữ.2 Số nét nhiều, kết cấu phức tạp (笔画繁多、结构复杂) ―Linh kiện‖ cấu tạo nên chữ Hán bao gồm: nét, bộ kiện (chữ thành phần), chữ hoàn chỉnh (chữ độc thể/chữ hợp thể).
Với 6 nét đơn cơ bản (ngang, sổ, hất, phẩy, mác, chấm) kết hợp với nhau thành trên 20 nét phức, sau đó những nét này lại kết hợp với nhau thành vô số những bộ kiện (cấu tạo nên chữ lập thể), chữ độc thể kết hợp với nhau theo kết cấu nhất định thành chữ hợp thể-những chữ Hán hoàn chỉnh). Một chữ Hán cho dù có bao nhiêu nét, kết cấu được phân bố ra sao cũng chỉ được viết trong 1 ô vuông nhất định trong không gian 2 chiều với các kiểu kết cấu lập thể khác nhau và vị trí, kích thước, độ cao thấp của từng bộ kiện cũng không giống nhau trong từng trường hợp. Trong khi đó, những ngôn ngữ viết bằng chữ cái Latin như tiếng Viêt, tiếng Anh thì chỉ cần viết theo trật tự thông thường từ trái sang phải với kết cấu đơn giản trong không gian 1 chiều. Ví dụ: 等 Đợi 1 2 3土 Đ,ơ,i và dấu nặng 4寸 Trong 3500 chữ thường dùng, số nét trung bình là 9.74 nét/chữ, trong đó chữ nhiều nét nhất trong số này là 矗( 24 nét), ngoài ra còn có chữ biang (64 nét) hiện chỉ dùng để đặt tên gọi cho một cửa hàng Mì, vì biang biang là tên một loại mì của tỉnh Thiểm Tây, bạn không thể tìm thấy chữ này trong từ điển.3 Từ đồng âm, từ đa âm nhiều (同音字多、多音多义字多) Hiện tượng đồng âm dị nghĩa cũng xuất hiện trong tiếng Việt song ở tiếng Hán bạn không thể chắc chắn viết được các chữ khi chỉ biết cách đọc của chúng.
Ví dụ với từ có âm đọc ―dān‖, bạn có thể dễ dàng tìm thấy trong từ điển một loạt các chữ như 郸 丹 单 担 耽 眈 聃 殚 箪 儋 甔 耼 躭;hoặc đơn giản như từ ― ‖ ngay trong những bài đầu của Giáo trình Hán ngữ 1(越)南/男(同学)/(不太)难. Việc lựa chọn chữ nào còn phụ thuộc rất lớn vào sự hiểu rõ về nghĩa cũng như cách dùng của chúng. Ngoài ra, số lượng không ít từ đa âm (đồng hình dị âm) cũng là đặc trưng cần lưu ý của chữ Hán. Hiện tượng này không có trong tiếng Việt.
Ví dụ 1: “首都/都是” 、睡觉 觉得 、银行 不行 1.4 Khó đọc(难读) Chữ Hán chủ yếu là biểu ý, tức mỗi chữ trong ô vuông đều mang một ý nghĩa nhất định và có một cách phát âm nhất định. Bạn có thể nhớ, đoán hoặc biết nghĩa của chúng, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc bạn biết đọc từ đó như thế nào. Ví dụ, chữ ―大‖gợi cho bạn cảm giác một người đứng giang hai tay ra, biểu thị sự to lớn, nhưng bạn không thể đọc được nếu không được dạy hoặc tra cứu trước đó. Thậm chí, ví dụ khi bạn biết rõ cách đọc của“请” , bạn cũng không thể chắc chắn những từ sau cũng đọc như vậy“青” , “情” Bạn có thể lập luận, dù sao những chữ gần giống nhau, âm đọc cũng ít nhiều có điểm tương đồng.
Hãy lưu ý giúp tôi âm đọc của một trong những vô vàn trường hợp như sau nhé: “今”( )“含” “琴” “令”. Đó là do thiếu tính quy luật trong phương thức phát âm. Điều này cũng khác hẳn với tiếng Việt, bạn dễ dàng suy đoán được cách đọc của ―thanh‖ sau khi đã đọc được ―than‖. 4 Ngoài ra, những chữ có cách phát âm gần giống nhau cũng không ít, ví dụ như ― ‖ cũng khiến cho người mới học cảm thấy bối rối.
Đặc biệt các vận mẫu của tiếng Hán như ―ian‖, ―iang‖, ―iao‖, ―iong‖.nếu không được luyện kỹ sẽ đọc nhầm tương ứng như cách phát âm Bắc Bộ ―en‖, ―eng‖, ―eo‖, ―ong‖ hoặc tương ứng với cách phát âm tiếng Việt Nam Bộ ―dan‖, ―dang‖, ―dao‖, ―dung‖ 1.5 Khó viết(难写) Như đã nói ở trên, những chữ Hán có số nét nhiều là một trở ngại của người học khi phải viết sao cho nhanh và chính xác chữ Hán, đặc biệt có những chữ Hán có ngoại hình thoạt nhìn khá giống nhau. Ví dụ 2: Chữ thường dùng nhiều nét: 赢 藏 裹 Chữ thường dùng gần giống nhau: 己 巳 已 Bạn dễ dàng bắt gặp một loạt chữ Hán cùng xuất phát từ một bộ kiện. Ví dụ 3: 人大头买卖读 1.6 Khó nhớ(难记) Người mới học tiếng Hán thường nói: chữ Hán học chữ nào biết chữ ấy. Thực tế gần như vậy, song lượng chữ nhiều, số nét trung bình là 9.24 nét/chữ, thậm chí vẫn là những nét ấy viết theo một kết cấu như nhau, sự một chút khác nhau về chiều dài nét cũng khiến chúng khác nhau.
Điều này quả thực khiến người học luôn cảm nhận chữ Hán khó nhớ. Hơn nữa, nhớ chữ không chỉ đơn thuần là viết, thậm chí có người ―vẽ‖ lại được ―hình dáng‖ của nó, mà bạn phải hiểu được âm đọc, ý nghĩa, cách dùng của chúng. Với người học Việt nam, bạn còn phải nhớ âm Hán Việt nữa. Ví dụ 4: Chữ Âm đọc (phiên âm) Âm Hán Việt Nghĩa thuần Việt Lưu ý cách dùng Hán Đứng bên trái thường nét cuối thường Thổ biến thành nét hất.
土 Đất (Thổ cư) Ví dụ: 地 Nét cuối không kéo dài hơn nét trên.