CHƯƠNG 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 1. Cơ sở lý luận về thuế Các quốc gia trên thế giới nói chung hay Nhà nước Việt Nam nói riêng đã và đang sử dụng thuế như một công cụ để quản lý đất nước. Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Mỗi công dân đều phải thực hiện nghĩa vụ đóng thuế đối với Nhà nước đồng thời cũng là một chủ thể góp phần quản lý nguồn thuế.
Để nắm chắc và thực hiện đúng đắn nghĩa vụ của bản thân, mỗi công dân cần có sự am hiểu về thuế. Khái niệm Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về thuế. Đối với mỗi cách tiếp cận khác nhau của mỗi nhà kinh tế lại có một quan điểm khác nhau về thuế. Mặc dù xét trên nhiều góc độ khác nhau, nhưng khi đề cập đến, mỗi quan điểm đều phải dựa trên những đặc tính cơ bản nhất của thuế.
Theo Giáo trình Thuế của Học Viện Ngân hàng, trang 6, có định nghĩa: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng”. Từ định nghĩa trên cho thấy, thuế là một khoản đóng góp mang tính nghĩa vụ, bắt buộc đối với các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế. Để đảm bảo sự tập trung và công bằng thuế trên toàn xã hội, chính phủ phải ban hành hệ thống pháp luật dưới dạng văn bản pháp luật hay pháp lệnh. Vì vậy, đối với mỗi thể nhân và pháp nhân khác nhau sẽ có quy định về mức độ và thời hạn riêng biệt được thể hiện trong các văn bản pháp luật hiện hành.
Các quy định về thuế thể hiện quyền lực của Nhà nước, qua đó nhằm tập trung một bộ phận quyền lực, của cải xã hội vào ngân sách nhà nước, để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước cho các mục đích công cộng phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đời sống kinh tế, xã hội. 7 Như vậy, sự ra đời của chế độ thuế khóa là một việc làm tất yếu khi mỗi Nhà nước được thành lập. Nhà nước đặt ra chế độ thuế do công dân đóng góp để hình thành quỹ tiền tệ của mình, từ đó có tiền chi tiêu cho sự tồn tại và hoạt động của chính mình. Chính vì vây, hiện nay thuế đã trở thành một công cụ quản lý đất nước không thể thiếu đối với mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng.
Đặc điểm Trong quá trình phát triển của lịch sử, cùng với việc hoàn thiện các chức năng, tổ chức bộ máy nhà nước, thuế đã có những thay đổi căn bản về hình thức và quy mô. Tuy tồn tại nhiều sự thay đổi, nhưng đứng trên góc độ tài chính để đưa ra nhận định, thuế mang những đặc điểm cơ bản sau đây: - Tính bắt buộc: Đặc điểm này được thể hiện trong hiến pháp của mỗi quốc gia. Thứ nhất, tính bắt buộc đối với người nộp thuế, mỗi công dân có nghĩa vụ bắt buộc phải đóng thuế cho Nhà nước theo quy định và nếu không thi hành sẽ bị cưỡng chế theo những hình thức nhất định. Thứ hai, tính bắt buộc đối với cơ quan thuế, các cơ quan thuế bắt buộc phải thực hiện việc thu thuế đối với mọi cá nhân và tổ chức do mình quản lý mà không được tồn tại bất kỳ sự bất công nào.
Xuất phát từ vai trò thuế là nguồn thu chính của ngân sách nhà nước và Nhà nước sẽ sử dụng khoản thuế thu được cho mục đích công cộng để phục vụ cho người dân. Vì vậy, tính bắt buộc của thuế phải tồn tại, Nhà nước phải sử dụng quyền lực của mình để đảm bảo mọi công dân phải đóng thuế từ đó có đủ ngân sách để cung ứng phần lớn hàng hóa công cộng cho đất nước. - Tính không hoàn trả trực tiếp: Khác với phí và lệ phí chỉ phải nộp khi đối tượng nộp đã nhận được một lợi ích ngay từ phía Nhà nước thì thuế là khoản bắt buộc mà người nộp thuế phải nộp cho Nhà nước khi có những điều kiện nhất định. Nghĩa là công dân sẽ không được Nhà nước trả trực tiếp lại tương ứng với số tiền mà mình đã đóng, nhưng công dân sẽ được nhận lại gián tiếp qua việc được hưởng các lợi ích công cộng mà nhà nước sử dụng tiền thuế để tạo ra.
Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện kể cả trước và sau thu thuế. Số tiền thuế phải nộp không phụ thuộc vào mức độ hưởng lợi ích của người nộp thuế. Các cá nhân, tổ chức đã nộp thuế cho Nhà nước cũng không có quyền đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp trực tiếp cho họ một lượng 8 hàng hóa hay dịch vụ cụ thể. Tuy nhiên, trong quá trình hoàn thiện các chính sách thuế, Nhà nước luôn chú trọng đảm bảo quyền lợi của công dân, đó là công dân có quyền nêu ý kiến của mình nếu số tiền thuế đóng quá cao mà trong khi đó mà nhận lại từ các dịch vụ là không tương xứng, đồng thời nhân dân cũng có thể kiểm tra việc chi tiêu của ngân sách nhà nước thông qua đại biểu của họ ở các cơ quan đại diện.
- Tính pháp lý cao: Nhà nước đã pháp luật hóa thuế thành hệ thống pháp luật để nâng cao vai trò quản lý xã hội của mình. Thuế do Quốc Hội lập ra dưới hình thức là một đạo luật – hình thức văn bản có tính pháp lý cao nhất do cơ quan quyền lực cao nhất, cơ quan lập pháp đặt ra. Điều này thể hiện sự khác biệt giữa thuế và các khoản phí, lệ phí. Tuy cùng là những khoản thu bắt buộc nhưng tính pháp lý của phí và lệ phí thấp hơn so với thuế và được thực hiện theo các quy định hợp pháp dưới luật.
Có thể thấy, thuế và quyền lực nhà nước là hai phạm trù không thể tách rời: Nhà nước là chủ thể duy nhất đặt ra các khoản thuế và ngược lại thuế là phương tiện vật chất chủ yếu để duy trì quyền lực Nhà nước. Bằng quyền lực chính trị, Nhà nước tạo ra cho thuế tính cố định và sự tuân thủ của đối tượng nộp thuế. Hiện nay, để đảm bảo tính đúng đắn và hiệu quả, các văn bản quy phạm pháp luật về thuế còn hiệu lực luôn được sửa đổi và bổ sung để phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội của quốc gia. Ví dụ, theo quy định tại Thông tư 87/2018/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư 215/2013/TT- BTC hướng dẫn cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, Nhà nước có thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính hoặc cưỡng chế hình sự để đảm bảo việc nguồn thu nhập tài chính cho Nhà nước và đảm bảo tính ổn định của thuế.
Như vậy, tính pháp lý cao của thuế là một đặc trưng tất yếu cần có bởi chỉ khi được gắn với yếu tố quyền lực thuế mới đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ tạo nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước. Vai trò của thuế trong nền kinh tế Hiện nay, để quản lý và điều hành vĩ mô nền kinh tế, có rất nhiều công cụ được sử dụng ví dụ như: Các chính sách tài chính tiền tệ, pháp luật, kế hoạch hóa,. Tuy nhiên, trong các công cụ nêu trên thì các chính sách tiền tệ nói chung và Thuế nói riêng là một trong những công cụ quan trọng nhất được Nhà nước sử dụng để thực hiện vai trò quản lý của mình. Từ đó cho thấy, Thuế không chỉ là công cụ để huy 9 động nguồn lực tài chính cho Nhà nước mà còn là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội, thể hiện như sau: - Vai trò huy động nguồn lực cho nhà nước: Qua quá trình hình thành và phát triển của mình, Nhà nước đã sử dụng thuế là công cụ chủ yếu để tập trung phần lớn nguồn tài chính trong nền kinh tế vào ngân sách nhà nước.
Trên thực tế, ngoài thuế thì còn có rất nhiều nguồn hình thành nên ngân sách nhà nước ví dụ như: vay mượn, thu phí và lệ phí, viện trợ nước ngoài,. Tuy nhiên các nguồn hình thành kể trên đều tồn tại những hạn chế nhất định, do đó, thuế được coi là khoản thu quan trọng và ổn định nhất. Một quốc gia có được đánh giá là lành mạnh hay không, phụ thuộc chủ yếu vào số thu thuế từ nội bộ nền kinh tế. Qua phân tích thực tế từ số liệu các năm gần đây, nhận định “Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước” càng thể hiện được tính đúng đắn.
Điều này được thể hiện qua tỷ trọng số thuế trong tổng thu ngân sách nhà nước và trong tổng giá trị sản phẩm quốc nội.1: Tình hình tỉ lệ thuế và phí trong tổng thu ngân sách nhà nước ta trong giai đoạn 2015 – 2018 Năm Tổng số thuế và phí % So với tổng thu NSNN % So với GDP ( Tỷ đồng ) (%) (%) 2015 957 460 84.72 Nguồn: Số liệu của Tổng cục thống kê Qua các số liệu thống kê ở bảng 1.1 ta thấy, số thu thuế và phí chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng thu ngân sách nhà nước và thường tăng dần qua các năm. Nhờ tỷ trọng lớn và ổn định của thuế trong ngân sách mà nhà nước có thể đảm bảo cho sự tồn tại và hoạt động của bộ máy. Số thu thuế được duy trì từ đó mới đáp ứng được nhu cầu chi tiêu ngân sách nhà nước ngày càng tăng. Doanh thu từ thuế được sử dụng để trang trải cho các hoạt động đầu vào cần thiết để sản xuất các hàng hóa và dịch vụ công của Chính phủ, ngoài ra còn có một phần được dành để chi đầu tư phát triển 10 kinh tế.
Như vậy, Thuế trở thành nguồn thu lâu dài, ổn định và không thể thiếu đối với ngân sách quốc gia. - Vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế: Không chỉ là một công cụ để tập trung nguồn lực tài chính cho ngân sách nhà nước, Thuế còn là một phương tiện điều tiết vĩ mô các hoạt động kinh tế - xã hội. Hiện nay, mỗi quốc gia thường phải đối mặt với một số mục tiêu cơ bản của nền kinh tế vĩ mô, điển hình là: + Thứ nhất, Thuế là công cụ góp phần điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế. Vai trò này xuất phát từ chính chức năng điều chỉnh của thuế.
Nội dung điều chỉnh của thuế gồn hai mặt: kích thích và hạn chế.