mở đầu bằng hội nghị quốc tế về con người và môi trường diễn ra vào tháng 6/1972 tại Stockholm với lời kêu gọi: “Hỡi loài người, hãy cứu lấy cái nôi sinh thành đang bị chính bàn tay của mình hủy hoại”. | Trong giai đoạn nhận thức (1970-1980) và giai đoạn hành động (1980- 1990), nhiều vấn đề liên quan đến phát triển bền vững đã được làm sáng tỏ. Đặc biệt, năm 1987 trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Hội đồng Thế giới về môi trường và phát trién-WCED, phát triển bền vững đã được định nghĩa “la sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của các thế hệ hiện tại nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cẩu của các thế hệ mai sau ”. Tổ chức lương nông Quốc tế (FAO) đã cung cấp một khái niệm hoàn chỉnh hơn như sau: “Phdt trién bền vững là sự quản lý và bảo tôn các nguôn tài nguyên tự nhiên và sự định hướng các thay đổi kỹ thuật như thế nào nhằm đảm bảo sự đạt được và tiếp tục thỏa mãn các nhu cầu của con người cho thế hệ hiện nay và tương lai”.
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janiero (Brazil) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh về PTBV tổ chức ở Johannesburg (Cộng Hòa Nam Phi) năm 2002 đã xác định “phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt gồm: Tăng trưởng kinh tế: tối đa luồng thu nhập có thể tạo ra được trong khi vẫn đảm bảo ít nhất là giữ nguyên trữ lượng tư bản cần để tạo nên những thu nhập do. Phát triển xã hội: thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm Bảo vệ môi trường: khắc phục, xử lý, phục hồi và cai thiện chất lượng môi trường, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên Như vậy, phát triển bền vững lồng ghép các quá trình hoạt động kinh tế, hoạt động xã hội với việc bảo tồn tài nguyên và làm giàu môi trường sinh thái. Phát triển kinh tế xã hội và quản lý môi trường vững chắc là những mặt bổ sung lẫn nhau của cùng một chương trình hành động. Trên thực tế, nếu kết quả của tăng trưởng kinh tế không được phân phối đồng đều trong xã hội và nếu sự chênh lệch thu nhập truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thì không những mức độ tăng trưởng sản xuất có thé suy giâm mà ngay cả xã hội cũng trở nên mat ôn định và có thé sụp dé trong dài hạn.
Tương tự, tăng trưởng kinh tế một cách thién cận có khả năng làm cạn kiệt các tài nguyên không thể tái sinh quá nhanh, hay hủy hoại môi sinh quá đà và do đó gây nhiều vấn để nghiêm trọng cho sự sinh tồn của con người. Nói chung, để đạt được phát triển bền vững cần phải kết hợp ba mục tiêu chính trên: Hình 1: Sơ Đồ Phát Triển Bền Vững Mục tiêu kinh tế (hiệu quả tăng trưởng kinh tế) Phân phối thu nhập, Đánh giá tác động tạo việc làm môi trường Mục tiêu xã hội Mục tiêu sinh thái (xóa bỏ nghèo đói, bất bình đẳng) ” (Bảo vệ TNTNMT) Sự tham gia của cộng đồng bảo vệ môi trường Nguồn tin: Giáo trình KTTNMT Định nghĩa Phát triển bền vững trong nông nghiệp và NTTS Ké từ ngày cải tổ kinh tế, nông nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều thành quả tốt đẹp. Sản lượng nông lâm thủy sản tăng nhanh không những đảm bảo an toàn lương thực cho cả nước mà cón góp phần xóa đói giảm nghèo tại nông thôn. Xuất khẩu nông nghiệp đã trở thành nguồn thu ngoại tệ đáng kể từ đầu thập ky năm 1990.
Hiệp định mậu dịch song phương Việt-Mỹ cũng như các hiệp định tương tự trong tương lai sẽ tiếp tục khuyến khích sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam. Tuy nhiên sự gia tăng sản lượng cũng như năng suất đạt được một phan là nhờ vào các phương pháp sản xuất có xu hướng gây ảnh hưởng tiêu cực lên chất lượng môi sinh. Các hoạt động trực tiếp hay gián tiếp trong nông nghiệp đã gây ra nhiều sự suy thoái môi trường nghiêm trọng mà điển hình hơn hết là mức phá rừng cao, sử dụng phân bón hóa học và thuốc diét sâu bọ bừa bãi, và khai thác quá độ hải sản. Những sự suy thoái này đã dẫn đến các van đề quan hệ trực tiếp với nông nghiệp như lũ lụt, đất xói mòn, nhiễm mặn, phèn hóa, tăng nồng độ hóa chất độc, ô nhiễm nguồn nước, đất mat độ màu mỡ và suy giảm đa dạng sinh học.
(Kinh tế Việt Nam trên đường hóa rằng-Chúủ biên Pham Đỗ Chi-NXB trẻ, 2004) Từ nhận thức về phát triển bền vững, chúng ta đi đến sự phát triễn nông nghiệp vững bền. Có nhiều khái niệm khác nhau về phát triển nông nghiệp bền vững. Tổ chức Lương thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) năm 1992 đã đưa ra khai niệm: “Với lãnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, Phát triển bền vững là bảo tôn nguồn tài nguyên Gat, nước, các nguồn gen thực và động vật, và mang thuộc tính không phá hiy môi trường, đúng đắn về mặt kỹ thuật, có hiệu quả kinh té và chấp nhận được về mặt xã hội” Theo Ủy ban kỹ thuật của FAO nền nông nghiệp bền vững bao gồm việc quản lý có hiệu quả nguồn lực để thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người mà vẫn duy trì hay làm tăng thêm chất lượng của môi trường và bảo tồn TNTN. Như vậy, trên quan điểm phát triển, sự phát triển nông nghiệp bền vững vừa đảm bảo thỏa mãn nhu cầu hiện tại ngày càng (ăng về sản phẩm nông nghiệp, vừa không giảm khả năng đáp ứng những nhu cầu của nhân loại trong tương lai.
Mặt khác, phát triển nông nghiệp bền vững vừa theo hướng đạt năng suất nông nghiệp cao hơn, vừa bảo vệ và giữ gìn TNTN, đảm bảo sự cân bằng có lợi về môi trường.Đặc điểm chung của tôm st Chu kì sống của tôm sú.Các giai đoạn phát triển ấu trùng tôm sú : Nauplli, Zoea, Mysis, Postlarvae, Juvenile, Tuổi thành thục: tuổi thành thục sinh dục của tom đực và tôm cái từ tháng thứ 8 trở đi. Tôm si đẻ quanh năm, nhưng tập trung vào hai thời kỳ chính: tháng 3-4 và tháng 7-10.Trong tự nhiên, tôm sú bắt mỗi nhiều hơn khi thuỷ triều rút. Nuôi tôm sti trong ao, hoạt động bắt mỗi nhiều vào sáng sớm và chiêu tôi. Lột xác Trong quá trình tăng trưởng, khi trọng lượng và kích thước tăng lên mức độ nhất định, tôm phải lột bỏ lớp vỏ cũ để lớn lên.
Sự lột xác thường xảy ra vào ban đêm.Một số yêu cầu kỹ thuật nuôi tôm Lựa chọn hình thức nuôi Bảng 1: Các Hình Thức Nuôi Tôm Sú Mật độ Sục khí Năng suất Mire đầu tư và Hìnhthức Conim2#! Có/Không(+/) TB(tắn/ha) trình độ quản lý QC ˆ - + OGCŒT dn § -/+ =<] ++ BTC 15 - 30 + 1-4 +++ TC >30 ++ >4 ++++ Nguồn tin: Kỹ thuật nuôi tôm sii -NXB nông nghiệp 2001 Trong việc chọn lựa dé quyét định hình thức nuôi người nuôi tôm cần lưu ý và xem xét thật can thận vẻ điều kiện đất đai, mức độ đầu tư (nguồn vốn) và trình độ quản lý nhằm có những quyết định đúng đắn nhất. Dia diém ao nuôi Những vùng có nguồn nước mặn từ 5 - 359/„„ và có PH đất trên 5 đều có thể nuôi tôm sú. Hình thức nuôi thâm canh thì đòi hỏi chất nước và đất cao hơn hình thức nuôi bán thâm canh và quảng canh cái tiến. Nói chung, đất nên có độ kết dính tốt, ít xác bã hữu cơ, giữ được nước là điều kiện lý tưởng.Nội dung quy trình nuôi Chuẩn bi-cai tao ao - Làm sạch ao: sau mỗi vụ nuôi phải nên vét sạch bùn đáy nhằm tạo cho nền đáy ao sạch, cứng giúp quá trình sử dụng được lâu đài - Bón vôi: khuyến cáo nên dùng CaCO; hay Dolomite.
- Phoi ao: Thời gian phơi từ 1- 2 tuần để có đủ thời gian cho vôi phát huy tác dụng sat trùng đáy - Diệt tap: sẽ tuỳ thuộc vào độ mặn va ky chủ trung gian mà ta sử dụng các loại hoá chất: Saponine, Neu-kuta, Chlorine - Gây màu nước (gây nguồn thức ăn tự nhiên): Nhằm tạo điều kiện cho thực vật phù du phát triển, giảm độ trong của nước, che bớt ánh sáng, hạn chế sự phát triển của các loại tảo đáy. Thả tôm giống. Để có được tôm giống chất lượng tốt, trước hết, khi mua tôm cần phải đến nơi đáng tin cậy và phải kiểm tra chất lượng tôm kỹ trước khi mua. Khi tha giống, điều quan trọng là chất lượng nước ở trong ao và nước trong túi đựng con giống phải gần giống nhau về độ mặn, nhiệt độ, độ PH.Khoảng thời gian 15 ngày đầu cho tôm ăn ngày hai lần sáng, chiều.
Khoảng thời gian 16- 45 ngày cho ăn ngày 3 lần. Khoảng thời gian 46-90 ngày cho ăn ngày 4-5 lần. Sau 91 ngày cho tôm ăn ngày 5-6 lần. Quản lý ao nuôi.Hàng ngày kiểm tra bờ ao, cống, mương, phát hiện và kịp thời xử lý những chỗ rò, hồng, sat lở.
Quản lý sức khỏe tôm.Thường xuyên quan sát hoạt động của tôm, đặc biệt vào ban đêm để kịp thời phát hiện những hiện tượng bất thường trong ao nuôi. Khi thấy tôm có biểu hiện bất thường hoặc có đấu hiệu bệnh lý phải xác định rõ nguyên nhân dé xử lý.Nếu tôm đạt kích cỡ đồng đều, có thể tiến hành thu toàn bộ tôm trong ao nuôi. Khi tôm có kích cỡ không đồng đều, hoặc giá tôm trên thị trường đang tăng, có thể tiễn hành thu tỉa những cá thể lớn hoặc thu một phan khối lượng tôm trong ao Bao quản.Tôm thu xong phải được rửa sạch, phân cỡ và ướp lạnh để bảo quản tạm thời trước khi đưa đi tiêu thụ. Hoặc dùng xe chuyển ngay tôm vừa thu hoạch đến các cơ sở chế biến hoặc tiêu thụ trực tiếp sản phẩm.Các van đề về hiệu quả kinh tế Khái niệm về hiệu quả kinh tế,là một phạm trù kinh tế khách quan chung cho mọi hình thái kinh tế xã hội, được xác định qua kết quả đạt được và chỉ phí bỏ ra.
Nó phản ánh trình độ quản lý và mức độ sử dụng các nguồn nhân lực và tài lực của nông hộ trong quá trình sản xuất (Bài giảng Kinh tế PTNT- Nguyễn Văn Năm) Hiệu quả kinh tế đối với NTTS.Vấn đề NTTS không nằm ngoài mục đích kinh doanh cho nên mục tiêu hướng đến cuối cùng vẫn là lợi nhuận. Hiệu quả kinh tế của các hộ NTTS là việc sử dụng đầy đủ, hợp lý đất đai, lao động, trang thiết bị, các kỹ thuật nuôi.