Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ lao động luôn tồn tại sự đan xen giữa lợi ích chung và mâu thuẫn lợi ích cục bộ giữa người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ). Lợi ích chung gắn liền với việc duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo ra doanh thu và bảo đảm việc làm, thu nhập; ngược lại, mâu thuẫn phát sinh từ quá trình phân chia lợi nhuận, thực hiện nghĩa vụ hợp đồng lao động (HĐLĐ), tiền lương, bảo hiểm xã hội (BHXH), chế độ phúc lợi, xử lý kỷ luật lao động hoặc bồi thường thiệt hại. Khi các bất đồng không được điều hòa kịp thời, xung đột sẽ tích tụ và chuyển hóa thành tranh chấp lao động (TCLĐ).

Bối cảnh thực tiễn năm 2023 ghi nhận nhiều biến động tiêu cực trên thị trường lao động quốc tế và trong nước. Làn sóng sa thải quy mô lớn tại các tập đoàn công nghệ toàn cầu (như Alphabet, Microsoft, Amazon, IBM cắt giảm khoảng 12.000 nhân sự) đã tác động lan tỏa đến khu vực châu Á và Việt Nam. Tại thành phố Hà Nội – trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế lớn của cả nước – hoạt động sản xuất, kinh doanh năm 2023 chịu ảnh hưởng suy giảm so với cuối năm 2022. Mặc dù GRDP ước tăng 6,17% và có 26.470 doanh nghiệp thành lập mới (tăng 6%), song toàn thành phố ghi nhận 18.481 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (tăng 25%), 3.051 doanh nghiệp giải thể (tăng 3%) và 3.758 doanh nghiệp chờ làm thủ tục giải thể (tăng 15%). Sự suy giảm này khiến tình trạng thiếu việc làm, chấm dứt HĐLĐ, nợ đọng BHXH gia tăng, kéo theo số lượng vụ việc TCLĐ cá nhân có chiều hướng diễn biến phức tạp.

Mặc dù hệ thống pháp luật lao động đã được hoàn thiện qua Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 2019 và Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2015, thực tiễn áp dụng các quy định giải quyết TCLĐ cá nhân trên địa bàn Hà Nội vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn giữa các thiết chế hòa giải viên lao động (HGVLĐ), Hội đồng trọng tài lao động (TTLĐ) và Tòa án nhân dân (TAND). Do đó, tác giả Nguyễn Phương Thảo lựa chọn đề tài "Pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân và thực tiễn thực hiện tại thành phố Hà Nội" làm khóa luận tốt nghiệp ngành Luật Kinh tế.

Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ các vấn đề pháp lý lý luận về TCLĐ cá nhân và cơ chế giải quyết TCLĐ cá nhân; đánh giá thực trạng quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội; chỉ ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân; từ đó đề xuất các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết TCLĐ cá nhân.

Nhiệm vụ nghiên cứu (được xác định theo văn bản):

  1. Rà soát, chọn lọc tài liệu liên quan, xây dựng cơ sở lý luận, tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật về giải quyết TCLĐ cá nhân tại Việt Nam; tham khảo tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO và pháp luật một số quốc gia.
  2. Thu thập và xử lý số liệu thực tiễn từ Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH), Liên đoàn Lao động, đội ngũ HGVLĐ, Hội đồng TTLĐ, TAND các cấp tại thành phố Hà Nội và các công trình liên quan giai đoạn 2020 - 2023.
  3. Sử dụng các phương pháp nghiên cứu để tổng hợp, đánh giá kết quả đạt được, chỉ ra tồn tại, hạn chế và nguyên nhân; đưa ra các đề xuất, giải pháp hoàn thiện pháp luật và công tác thực thi thực tế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống pháp luật thực định về TCLĐ cá nhân và cơ chế giải quyết TCLĐ cá nhân (lý luận, phương thức, nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hiệu) cùng thực tiễn thi hành tại các cơ quan có thẩm quyền trên địa bàn Hà Nội.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các quy định pháp luật lao động trong BLLĐ năm 2019; các quy định tố tụng tại BLTTDS năm 2015 chỉ được nghiên cứu ở phạm vi hẹp phục vụ mục đích đề tài, không đi sâu vào toàn bộ quy trình tố tụng dân sự chung.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Khai thác số liệu thực tiễn trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2023.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận vận dụng hệ thống khái niệm, căn cứ pháp lý và phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

Khung lý thuyết và khái niệm:

  • Khái niệm tranh chấp lao động: Kế thừa quá trình phát triển từ Thông tư liên ngành số 02/TT-LN (1985), BLLĐ năm 1994, 2005, 2012 đến khoản 1 Điều 179 BLLĐ năm 2019, tiếp cận theo định nghĩa của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), bao gồm các xung đột phát sinh trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động (QHLĐ), giữa các tổ chức đại diện lao động với nhau, và quan hệ liên quan trực tiếp đến QHLĐ.
  • Khái niệm tranh chấp lao động cá nhân: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 179 BLLĐ năm 2019, bao gồm tranh chấp giữa NLĐ với NSDLĐ; giữa NLĐ với doanh nghiệp, tổ chức đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; giữa NLĐ thuê lại với NSDLĐ thuê lại.
  • Văn bản quy phạm pháp luật nòng cốt: BLLĐ năm 2019 (các Điều 179, 180, 184, 185, 188, 189, 190); BLTTDS năm 2015 (các Điều 32, 35, 37, 39, 40, 179, 189, 192); Nghị định số 145/2020/NĐ-CP (quy định tiêu chuẩn, trình tự bổ nhiệm HGVLĐ và tổ chức hoạt động của Hội đồng TTLĐ); Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 (về miễn nộp tạm ứng án phí, án phí lao động); Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020.
  • Bốn phương thức giải quyết: Thương lượng, hòa giải (qua HGVLĐ hoặc hòa giải viên/Thẩm phán tại Tòa án), trọng tài lao động (Hội đồng TTLĐ), và xét xử tại TAND.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Đặt các hiện tượng mâu thuẫn lao động trong mối quan hệ với quy luật phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Phương pháp phân tích, chứng minh: Sử dụng xuyên suốt các chương để phân tích quy phạm pháp luật, cấu thành hành vi tranh chấp và thẩm định các lập luận.
  • Phương pháp so sánh: So sánh các quy định của BLLĐ năm 2019 với các đạo luật lao động tiền nhiệm; đối chiếu cơ chế HGVLĐ của Việt Nam với các mô hình hòa giải chuyên trách tại Canada, Nhật Bản, Thái Lan, Hoa Kỳ.
  • Phương pháp thống kê: Áp dụng trọng tâm tại Chương 2 để phân loại, tổng hợp số liệu vụ việc thụ lý, tỷ lệ hòa giải thành và số liệu xét xử thực tế.

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu nghiên cứu được trích xuất từ báo cáo của TAND hai cấp thành phố Hà Nội giai đoạn 2020 - 2023; số liệu thống kê đội ngũ HGVLĐ từ Sở LĐTBXH thành phố Hà Nội (tháng 12/2022); Bản tin Quan hệ lao động của Trung tâm Hỗ trợ phát triển Quan hệ lao động; Báo cáo tổng kết công tác năm 2021 của TAND tối cao; số liệu công tác bảo vệ quyền lợi đoàn viên của Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội (nhiệm kỳ 2018 - 2023); các giáo trình Luật Lao động của Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật - ĐHQGHN, Trường Đại học Luật TP.HCM cùng các luận văn, luận án và tạp chí chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân và quy định pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận và các quy định pháp luật thực định về TCLĐ cá nhân:

  • Đặc điểm TCLĐ cá nhân: Khác với TCLĐ tập thể, TCLĐ cá nhân được nhận diện qua: (i) Chủ thể: là cá nhân NLĐ (hoặc một nhóm NLĐ nhưng mỗi cá nhân có yêu cầu độc lập, không đại diện cho tập thể lao động và không vượt quá nửa số lao động tại cơ sở) với NSDLĐ; (ii) Nội dung: xoay quanh quyền, nghĩa vụ gắn liền với quyền lợi cá nhân (tiền lương, bảo hiểm, chế độ nghỉ phép, bồi thường thiệt hại, sa thải); (iii) Tính chất: mang tính đơn lẻ, phạm vi ảnh hưởng hẹp hơn so với TCLĐ tập thể; (iv) Sự tham gia của tổ chức đại diện người lao động: vai trò của Công đoàn cơ sở hoặc tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp nhằm hỗ trợ bảo vệ quyền lợi hợp pháp.
  • Bốn phương thức giải quyết và vai trò: Phân tích ưu - nhược điểm của thương lượng (linh hoạt, không có tính cưỡng chế), hòa giải (rút ngắn thời gian, bảo mật nhưng thỏa thuận tại HGVLĐ thiếu chế tài bắt buộc), trọng tài (tạo phán quyết độc lập nhưng thiếu cơ chế cưỡng chế thi hành), và TAND (phán quyết mang tính quyền lực nhà nước, cưỡng chế thi hành nhưng thủ tục chặt chẽ, kéo dài và tốn kém chi phí). Hoạt động giải quyết TCLĐ cá nhân giữ 4 vai trò: bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên; củng cố QHLĐ và ổn định sản xuất; phòng ngừa tranh chấp phát sinh; hoàn thiện quy phạm pháp luật lao động.
  • Nguyên tắc giải quyết (Điều 180 BLLĐ năm 2019): (1) Tôn trọng quyền tự định đoạt qua thương lượng; (2) Bảo đảm hòa giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên, không trái pháp luật; (3) Công khai, minh bạch, khách quan, kịp thời, nhanh chóng, đúng pháp luật; (4) Bảo đảm sự tham gia của đại diện các bên; (5) Chỉ tiến hành khi có yêu cầu của bên tranh chấp hoặc đề nghị của cơ quan có thẩm quyền và được các bên đồng ý. Khi đưa ra TAND, phải tuân thủ các nguyên tắc tại Chương 2 BLTTDS năm 2015.
  • Thẩm quyền và trình tự, thủ tục:
    • Hòa giải viên lao động: BLLĐ năm 2019 bỏ Hội đồng hòa giải lao động cơ sở, trao thẩm quyền hòa giải cơ sở cho HGVLĐ do Chủ tịch UBND cấp tỉnh bổ nhiệm (nhiệm kỳ không quá 5 năm). Thủ tục tại HGVLĐ là bắt buộc, trừ 6 trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 188 BLLĐ năm 2019 (sa thải, đơn phương chấm dứt HĐLĐ; bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt HĐLĐ; bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; bồi thường giữa NLĐ giúp việc gia đình; giữa NLĐ thuê lại với NSDLĐ thuê lại...). Thời hạn hòa giải là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu.
    • Hội đồng trọng tài lao động: Thiết chế giải quyết tranh chấp mới theo BLLĐ năm 2019 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2021). Hội đồng gồm tối thiểu 15 thành viên theo cơ chế ba bên. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ khi nhận đơn, Ban trọng tài được thành lập; Ban trọng tài có 30 ngày làm việc để nghiên cứu hồ sơ và ra quyết định. Tuy nhiên, phán quyết trọng tài đối với TCLĐ cá nhân chưa có cơ chế cưỡng chế thi hành án.
    • Tòa án nhân dân: TAND cấp huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm; TAND cấp tỉnh xét xử sơ thẩm các vụ việc phức tạp hoặc xét xử phúc thẩm. Thẩm quyền theo lãnh thổ và thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn tạo điều kiện cho NLĐ khởi kiện tại nơi cư trú khi tranh chấp về tiền lương, trợ cấp hoặc bảo hiểm. Quy trình tố tụng trải qua các bước: thụ lý đơn (xem xét trong 5 ngày làm việc), chuẩn bị xét xử (thời hạn 2 tháng theo Điều 179 BLTTDS năm 2015), mở phiên hòa giải tại Tòa án (nếu thành công, sau 7 ngày ra quyết định công nhận sự thỏa thuận có hiệu lực thi hành ngay), xét xử sơ thẩm và phúc thẩm.
  • Thời hiệu yêu cầu (Điều 190 BLLĐ năm 2019): 06 tháng đối với HGVLĐ; 09 tháng đối với Hội đồng TTLĐ; 01 năm đối với TAND, tính từ ngày phát hiện hành vi mà mỗi bên cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm. Thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không tính vào thời hiệu.

Chương 2: Thực tiễn thực hiện quy định pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội

Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn giải quyết TCLĐ cá nhân tại Hà Nội thông qua các chỉ số và dữ liệu hoạt động:

  • Bối cảnh lao động và quan hệ lao động: Thành phố Hà Nội hiện có khoảng 270.000 đến 370.000 doanh nghiệp hoạt động (bình quân 37 người dân/doanh nghiệp, tỷ lệ doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 98%), quản lý hơn 2,7 triệu lao động. 10 khu công nghiệp (KCN) thu hút 711 dự án với 165.000 lao động (doanh nghiệp FDI chiếm hơn 6,6 tỷ USD vốn đăng ký, riêng Nhật Bản chiếm 60%). Liên đoàn Lao động thành phố quản lý 45 công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở, 9.208 Công đoàn cơ sở với 664.031 đoàn viên. Tỷ lệ doanh nghiệp ký kết Thỏa ước lao động tập thể đạt 73,45%; tỷ lệ tổ chức Hội nghị người lao động đạt 73,0%.
  • Thực tiễn thương lượng và hoạt động bảo vệ quyền lợi của Công đoàn: Giai đoạn 2018 - 2023, các cấp Công đoàn Hà Nội đã lập 592 bộ hồ sơ khởi kiện doanh nghiệp nợ đọng BHXH, trong đó có 75 bộ hồ sơ được TAND thụ lý. Qua thủ tục thông báo khởi kiện, 121 doanh nghiệp đã nộp hết tiền nợ, 177 doanh nghiệp tự giác khắc phục một phần, thu hồi tổng cộng 115 tỷ đồng nợ đọng BHXH, giải quyết quyền lợi cho 1.745 lao động.
  • Hoạt động của đội ngũ Hòa giải viên lao động:
    • Năm 2019, Hà Nội có 114 HGVLĐ, đạt tỷ lệ 0,73 HGVLĐ/1.000 doanh nghiệp (thấp hơn mức bình quân cả nước là 1,87%). Đến tháng 12/2022, toàn thành phố có 111 HGVLĐ (gồm cán bộ thuộc Sở LĐTBXH và Phòng LĐTBXH của 30 quận, huyện, thị xã).
    • Cơ cấu giới tính: 53% nam và 47% nữ; độ tuổi tập trung lớn nhất chiếm 81% tổng số; thâm niên công tác trong lĩnh vực QHLĐ dao động từ 36 tháng đến 324 tháng. Quận Đống Đa có số lượng HGVLĐ nhiều nhất (06 người), quận Hai Bà Trưng thấp nhất (01 người).
    • Về hiệu quả: Giai đoạn 2008 - 2019 có 257 vụ việc được giải quyết với tỷ lệ hòa giải thành trên 50%. Giai đoạn 2020 - 2023, tỷ lệ hòa giải thành đạt khoảng 60%, tỷ lệ hòa giải không thành chiếm 40%. Thời gian hòa giải trung bình từ 01 đến 03 ngày. Năm 2023, thành phố ban hành Kế hoạch số 118/KH-UBND tuyển chọn, bổ nhiệm và bổ nhiệm lại 25 HGVLĐ.
  • Hoạt động của Hội đồng Trọng tài lao động: Hội đồng TTLĐ thành phố Hà Nội được thành lập với ít nhất 15 thành viên (Chủ tịch Hội đồng là Phó Giám đốc Sở LĐTBXH). Tuy nhiên, kể từ khi thành lập đến năm 2023, hoạt động giải quyết TCLĐ cá nhân gần như không phát sinh vụ việc đáng kể. Thiết chế này chủ yếu tham gia hòa giải một số vụ việc tranh chấp tập thể, hỗ trợ phát triển QHLĐ và đóng góp ý kiến xây dựng chính sách pháp luật.
  • Hoạt động xét xử tại TAND hai cấp thành phố Hà Nội:
    • Mô hình 16 Trung tâm hòa giải, đối thoại tại TAND hai cấp hoạt động từ ngày 01/11/2018 ghi nhận tỷ lệ hòa giải thành trung bình đạt 79% (theo Báo cáo tổng kết công tác năm 2021 của TAND tối cao).
    • Trong giai đoạn 2020 - 2023, TAND hai cấp thành phố Hà Nội đã thụ lý 500 vụ án lao động sơ thẩm, giải quyết được 399/500 vụ (đạt tỷ lệ 79,8% theo văn bản). Nội dung tranh chấp chủ yếu tập trung vào: tiền lương, trợ cấp thôi việc, chốt sổ BHXH, tranh chấp về xử lý kỷ luật sa thải và đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật.

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân và nâng cao hiệu quả hoạt động giải quyết tranh chấp lao động cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội

Chương 3 trình bày các nhóm giải pháp xuất phát từ các bất cập đã chỉ ra tại Chương 2:

  • Hoàn thiện quy định pháp luật:
    • Bổ sung cơ chế bảo đảm thi hành phán quyết của Hội đồng TTLĐ trong giải quyết TCLĐ cá nhân, tạo giá trị pháp lý ràng buộc tương tự như phán quyết trọng tài thương mại hoặc bản án của Tòa án để giảm tải cho hệ thống tư pháp.
    • Sửa đổi các tiêu chuẩn, chế độ đãi ngộ đối với HGVLĐ; chuyển đổi dần từ mô hình kiêm nhiệm sang mô hình hòa giải viên chuyên trách nhằm bảo đảm tính độc lập, khách quan và chuyên nghiệp.
    • Hướng dẫn chi tiết cách xác định mốc thời gian "ngày phát hiện hành vi vi phạm" và quy định rõ các tiêu chí xác định "trở ngại khách quan", "sự kiện bất khả kháng" để tính thời hiệu giải quyết tranh chấp.
  • Nâng cao hiệu quả thực thi trên địa bàn thành phố Hà Nội:
    • Tăng cường đào tạo, chuẩn hóa chuyên môn sâu về QHLĐ và luật lao động cho đội ngũ HGVLĐ tại các quận, huyện; đẩy nhanh tiến độ triển khai Kế hoạch 118/KH-UBND.
    • Đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật lao động cho cả NSDLĐ và NLĐ, đặc biệt tại các KCN tập trung đông công nhân; nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật về đóng BHXH và giao kết HĐLĐ.
    • Tăng cường vai trò đại diện khởi kiện của các cấp Công đoàn; nhân rộng cơ chế phối hợp liên ngành giữa Sở LĐTBXH, TAND, BHXH và Công đoàn trong việc xử lý vi phạm nợ đọng BHXH.
    • Nâng cao hiệu quả hoạt động của các Trung tâm hòa giải, đối thoại tại TAND hai cấp nhằm tăng tỷ lệ hòa giải thành ngay từ giai đoạn tiền tố tụng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã trích xuất và tổng hợp được hai bảng số liệu quan trọng phản ánh thực trạng nguồn lực hòa giải và kết quả xét xử án lao động cá nhân tại Hà Nội:

Bảng 1: Cơ cấu chuyên môn của đội ngũ HGVLĐ thành phố Hà Nội (thống kê tháng 12/2022)

Nhóm chuyên môn đào tạo Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Kinh tế, Quản trị kinh doanh (loại trừ Kinh tế lao động) 39 35,14%
Luật, Bảo hộ lao động 37 33,33%
Quan hệ lao động, Quản trị nhân lực, Kinh tế lao động 10 9,01%
Chuyên môn khác 25 22,52%
Tổng cộng 111 100%

Bảng 2: Tình hình thụ lý và giải quyết án TCLĐ cá nhân tại TAND hai cấp thành phố Hà Nội (2020 - 2023)

Tiêu chí thống kê Năm 2020 Năm 2021 Năm 2022 Năm 2023
Tổng số vụ án thụ lý tại hai cấp 134 115 120 131
Sơ thẩm TAND cấp quận/huyện thụ lý 105 97 95 109
Sơ thẩm TAND thành phố Hà Nội thụ lý 06 02 07 08
Phúc thẩm TAND thành phố Hà Nội thụ lý 23 12 18 14
Số vụ án đã hòa giải thành 10 04 11 07
Số vụ án đã xét xử 104 93 94 108
Tỷ lệ xét xử 77,61% 80,87% 78,33% 82,44%

Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn:

  • Làm rõ cấu trúc phân cấp giải quyết tranh chấp theo BLLĐ năm 2019, chỉ ra sự chuyển dịch thẩm quyền từ Hội đồng hòa giải cơ sở sang thiết chế HGVLĐ đơn danh và sự ra đời của Hội đồng TTLĐ.
  • Cung cấp số liệu định lượng xác thực chứng minh tỷ lệ HGVLĐ có chuyên môn trực tiếp về QHLĐ tại Hà Nội rất thấp (chỉ 9,01%), đồng thời tỷ lệ HGVLĐ trên 1.000 doanh nghiệp chỉ đạt 0,73 (năm 2019), lý giải nguyên nhân dẫn đến sự quá tải và hạn chế chất lượng hòa giải cơ sở.
  • Phản ánh thực trạng "lắng đọng" của Hội đồng TTLĐ đối với tranh chấp cá nhân do thiếu cơ chế cưỡng chế phán quyết, khiến các đương sự tiếp tục dồn gánh nặng giải quyết lên hệ thống TAND (tỷ lệ các vụ việc phải đưa ra xét xử tại Tòa án luôn ở mức cao, từ 77,61% đến 82,44%).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Phạm vi khảo sát thực tiễn chỉ giới hạn trên địa bàn thành phố Hà Nội, chưa đối chiếu số liệu liên tỉnh với các trung tâm công nghiệp lớn khác (như TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai) để đánh giá tính đại diện toàn quốc.
    • Khóa luận không đi sâu vào phân tích toàn diện quy trình tố tụng dân sự chung tại TAND mà chỉ giới hạn ở các khía cạnh liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động.
    • Dữ liệu thực tế về giải quyết TCLĐ cá nhân tại Hội đồng TTLĐ còn rất hạn chế do thiết chế này mới vận hành từ năm 2021 và số lượng vụ việc cá nhân lựa chọn trọng tài gần như không đáng kể.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh cơ chế giải quyết TCLĐ cá nhân giữa các vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam.
    • Đi sâu nghiên cứu hoàn thiện cơ chế công nhận và thi hành phán quyết của Hội đồng TTLĐ đối với tranh chấp cá nhân tương tự như mô hình trọng tài thương mại.
    • Nghiên cứu các dạng tranh chấp lao động mới phát sinh trong nền kinh tế số, việc làm từ xa và tác động của trí tuệ nhân tạo (AI) đến việc chấm dứt hợp đồng lao động.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Lao động và Quản trị nhân lực khi nghiên cứu về thiết chế giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo BLLĐ năm 2019 và BLTTDS năm 2015.
  • Cán bộ nhân sự (HR), cán bộ pháp chế doanh nghiệp và cán bộ Công đoàn cơ sở tại Hà Nội trong việc nắm bắt trình tự thương lượng, hòa giải và khởi kiện nợ đọng BHXH.
  • Đội ngũ Hòa giải viên lao động, Thẩm phán và Thư ký Tòa án chuyên trách xét xử các vụ án lao động.
  • Các phần có giá trị tham khảo cao nhất: Bảng thống kê chi tiết về cơ cấu chuyên môn đội ngũ HGVLĐ Hà Nội; dữ liệu thụ lý và tỷ lệ xét xử của TAND hai cấp thành phố Hà Nội giai đoạn 2020 - 2023; quy trình đối chiếu 3 phương thức hòa giải - trọng tài - tòa án.

Câu hỏi thường gặp

1. Đội ngũ Hòa giải viên lao động (HGVLĐ) tại thành phố Hà Nội có cơ cấu chuyên môn như thế nào theo số liệu thống kê cuối năm 2022? Theo số liệu thống kê tháng 12/2022, toàn thành phố Hà Nội có 111 HGVLĐ. Cơ cấu chuyên môn được phân bổ như sau: ngành Kinh tế, Quản trị kinh doanh (loại trừ Kinh tế lao động) chiếm 35,14% (39 người); ngành Luật, Bảo hộ lao động chiếm 33,33% (37 người); các chuyên môn khác chiếm 22,52% (25 người); nhóm có chuyên môn đào tạo trực tiếp về Quan hệ lao động, Quản trị nhân lực và Kinh tế lao động chỉ chiếm 9,01% (10 người).

2. Tình hình thụ lý và kết quả giải quyết các vụ án TCLĐ cá nhân tại TAND hai cấp thành phố Hà Nội giai đoạn 2020 - 2023 diễn biến ra sao? Giai đoạn 2020 - 2023, TAND hai cấp thành phố Hà Nội thụ lý tổng cộng 500 vụ án lao động sơ thẩm (năm 2020: 134 vụ; năm 2021: 115 vụ; năm 2022: 120 vụ; năm 2023: 131 vụ). Tòa án đã giải quyết được 399 vụ (đạt tỷ lệ 79,8% theo văn bản). Tỷ lệ các vụ án phải đưa ra xét xử chiếm đa số hàng năm (từ 77,61% đến 82,44%), trong khi số vụ hòa giải thành tại Tòa án tương đối thấp (năm 2020: 10 vụ; năm 2021: 04 vụ; năm 2022: 11 vụ; năm 2023: 07 vụ).

3. Hoạt động khởi kiện nợ đọng BHXH của các cấp Công đoàn thành phố Hà Nội trong nhiệm kỳ 2018 - 2023 đạt kết quả cụ thể nào? Trong nhiệm kỳ 2018 - 2023, các cấp Công đoàn Hà Nội đã lập 592 bộ hồ sơ khởi kiện doanh nghiệp nợ đọng BHXH, trong đó có 75 bộ hồ sơ được Tòa án tiếp nhận. Thông qua thủ tục thông báo khởi kiện, đã có 121 doanh nghiệp hoàn trả toàn bộ nợ BHXH, 177 doanh nghiệp tự giác nộp một phần nợ, thu hồi tổng cộng 115 tỷ đồng tiền nợ đóng BHXH và giải quyết quyền lợi cho 1.745 đoàn viên, người lao động.

4. Vì sao phương thức giải quyết TCLĐ cá nhân thông qua Hội đồng trọng tài lao động tại Hà Nội chưa phát huy được hiệu quả trên thực tế? Mặc dù BLLĐ năm 2019 và Nghị định 145/2020/NĐ-CP đã quy định Hội đồng TTLĐ thành phố Hà Nội có ít nhất 15 thành viên với thẩm quyền giải quyết cả tranh chấp cá nhân trong thời hạn 30 ngày làm việc, thiết chế này vẫn hoạt động "lắng đọng" do: (i) Thủ tục trọng tài dựa trên sự thỏa thuận lựa chọn của hai bên nhưng NSDLĐ thường thiếu thiện chí tham gia; (ii) Pháp luật hiện hành chưa có cơ chế bảo đảm thi hành phán quyết trọng tài đối với tranh chấp cá nhân bằng biện pháp cưỡng chế nhà nước, dẫn đến việc các bên có xu hướng lựa chọn khởi kiện trực tiếp ra TAND.

5. Thời hiệu yêu cầu giải quyết TCLĐ cá nhân theo quy định của BLLĐ năm 2019 được phân định như thế nào giữa các cơ quan có thẩm quyền? Theo Điều 190 BLLĐ năm 2019, thời hiệu yêu cầu giải quyết TCLĐ cá nhân được quy định: 06 tháng đối với yêu cầu HGVLĐ thực hiện hòa giải; 09 tháng đối với yêu cầu Hội đồng TTLĐ giải quyết; và 01 năm đối với yêu cầu TAND giải quyết. Thời điểm bắt đầu tính thời hiệu là ngày mỗi bên phát hiện ra hành vi mà mình cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Thời gian không thể thực hiện quyền yêu cầu do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không bị tính vào thời hiệu này.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Phương Thảo đã hệ thống hóa toàn diện các quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 và các văn bản liên quan về cơ chế giải quyết tranh chấp lao động cá nhân. Thông qua chuỗi số liệu thực tế giai đoạn 2020 - 2023 tại Hà Nội, công trình đã phân tích sâu sắc thực trạng vận hành của 4 phương thức thương lượng, hòa giải viên lao động, Hội đồng trọng tài lao động và Tòa án nhân dân, chỉ rõ các điểm nghẽn về nhân sự kiêm nhiệm, cơ cấu chuyên môn và tính cưỡng chế của phán quyết trọng tài. Các đề xuất, giải pháp được xây dựng bám sát thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô, đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện thể chế pháp lý và nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.