CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỌNG BAO THANH TOÁN VA PHÁP LUAT VỀ HOẠT DONG BAO THANH TOÁN 1. Lý luận chung về hoạt động bao thanh toán 1. Khái niệm, đặc điều hoạt động bao thanh toán 1111. Khái mém hoạt động bao thanh toán Một số ý kiên cho rang hoạt động BTT hình thành từ cách đây 4000 năm đưới nên văn minh Mesopotamia — một nền văn minh đầu tiên phát minh ra chữ việt, hành thành nên các quy tắc nhà nước cũng như các luật lệ thương mai.
Hau hết các quốc gia văn minh thời bây giờ đều coi trong buôn bán, ho cũng đã ứng dung một số phương thức tương tự như phương thức BTT, có thé ké đến như người Roman đã tùng giảm giá từ thương phiêu. Vào thé ky 14 và 15 với su phát triển toàn cau của ngành công nghiép Anh, các đại lý BTT đã thé hiện được vai tro của mình BTT phát triển mạnh dưới hình thức tng trả trước một phân cho người ủy nhiệm, với các khoản tam ung nảy mà các đại lý BTT tính thêm phí hoa hông hay lãi suất. Đến thê ky 16, sự xuất hiện của chủ ng‡ĩa thực dân Mỹ chính là tiên dé thúc day sự phát triển của BTT trong thời ky này. Một sự thay đổi quan trong trong thé giới thương mai đã xảy ra vào cuối thê ky 19.
Mỹ phát triển và trở thành một quốc gia chủ quyền, trở nên it bị phụ thuộc vào hang hóa nước ngoài, khi đó các mối quan hé lệ thuộc giữa Mỹ và Châu Âu không còn tên tại nữa, nhu câu sử dung các đại lý thương mai tại nước ngoài cũng như nhập khâu hàng hóa đã suy giảm đáng kể. Đúng trước tình hình đó, các dai ly BTT đá điêu chỉnh dich vụ theo nhu cầu của nên kinh tê, tập trung vào hoạt động tin dụng, thu nơ, kê toán. BTT nội địa ra đời nhằm dap tng nhu cầu bén hàng trong pham vi biên giới quốc gia. Sang dau thé ky 20, BTT phát triển hơn và mở rộng chuyên môn và dich vụ sang các ngành công nghiệp khác.
Các đại lý BTT đưa ra hình thức BTT mua lai các khoản phải thu dựa trên hóa đơn thương mai. Từ đó BTT đã thực sự có một chỗ đứng vững vàng trong các hoạt động thương mai. Từ khi manh nha xuất hién đến khi phát triển mạnh mé như biện nay, BTT đã trải qua nhiều thé ky tôn tại và phát triển đưới nhiều hình thái khác nhau. Cho đến năm 1963, cơ quan kiểm soát tiên tệ công bó BTT là một hoạt đông ngân hàng 8 hop pháp và các ngân hàng mới chính thức tiên hành hoạt đông trong lĩnh vực này, bat đầu từ năm 1974 BTT mới được công nhân bởi hau hết các quốc gia trên thé giới.
Tai Việt Nam, sau Quyét định số 1906/2004/QĐ-NHNN của Thông đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành thì hoạt đông BTT mới được chính thức hợp pháp hóa và tién hành triển khai thực biện tại một so NHTM Việt Nam. Có rất nhiều định nghĩa về BTT, sau đây là một số định nghĩa: Theo các Từ điển luật học, thuật ngữ BTT thường được mô tả là việc chuyển nlương các khoản phải thu thương mại của người bán cho tô chức BTT. Khi thực hiện các giao dich thương mai làm phát sinh các khoản phải thu, người bản có thé cải thiên trang thái ngân quỹ của minh bằng việc đem nlwong bán các khoản phải thu để nhân ngay một khoản tiền mặt đã trừ phân chiết khâu từ tô chức BTT. Té chức BTT sau khi nhận các khoản phải thu từ người bán sẽ thực hién việc thu nơ đối với người mua.
Theo Từ dién kinh têế, BTT là một sự dân xếp tải chính, qua đó mét công ty tài chính chuyên nghiệp mua lại các khoản nợ của một công ty với số tiền ít hơn giá trị của khoản nơ đó. Lợi nhuận phát sinh từ sự chênh lệch giữa tiền thu được của số nơ để mua và giá mua thực té của mon nợ đó. Loi ich của công ty bán nơ là nhận được tiên ngay hơn nữa lại tránh được những phiên toái và các chi phí trong việc theo đuổi các cơn nợ châm trả. Theo Từ dién thuật ngữ Ngan hàng — Hans Klaus thi BTT là một loại hinh tài trợ dưới dạng tín dụng chuyển nhượng nơ.
Một công ty chuyên toàn bộ hay một phân khoản nợ cho mét công ty tà: chính chuyên nghiép (công ty mua nợ, thông thường là một công ty trực thuộc ngân hàng). Công ty này đâm nhận việc thu các khoản no, theo đối các khoản phải thu để hưởng thủ tục phí và có lúc ứng trước các khoản nợ. Thông thường công ty mua nợ phải chịu rủi ro mất kha năng thanh toán của mớn nợ. Theo Hiệp hội BTT thê giớiế (FCI — Factor Chain International) thì BTT được định ngiữa là một dich vụ tai chính trọn gói bao gém su kết hợp giữa tài trợ vốn hoạt đông, bảo hiểm rủi ro tin dung, theo đối các khoản phải thu và địch vụ thu Ý Xem Daniel Oran (2007), ram+ Dictionary of the law, Cengage Leanung hoặc The Hononsable Justice Ipp (2002), Butterworths Business and law dictionary, LexisNexis Buttenvorths ‘Kem Cluistopher Pass & Bryan Lones (1988), Dictionary of Econonse, Collins * Xem tai https fei nl/enbrhat-factoring?language content entity=en 9 hộ.
Do là sự thỏa thuận giữa đơn vị BTT và bên ban, trong đó bên bán hang sẽ chuyển nhượng các khoan phải thu cho đơn vị BTT dé nhận tiền hàng ứng trước cho các khoản phải thu đó, đông thời đơn vị BTT sẽ quân lý và thu hộ các khoản phải thu đó. Trong trường hợp BTT mién truy doi, nêu bên mua phá sản hay mat khả năng chi trả thì đơn vi BTT sẽ thay bên mua trả tiền cho bên bán Khi bên mua và bên bán ở hai nước khác nhau thì địch vụ nay được goi là BTT quốc té. Theo Công ước UNIDROIT vệ BTT quốc tê năm 1998? (Công ước Ottawa năm 1988) đã mô tả hoạt đông BTT như sau: - Bên bán hang sẽ chuyển giao cho bên BTT các khoản phải thu phát sinh từ các hợp đông mua bán hàng hóa giữa bên bản và bên mua (con no), trừ các hợp dong nhằm mục dich tiêu dùng cho cá nhân, hộ gia định; - Bên BTT sẽ thực hién ít nhật hai trong SỐ các nghiép vụ sau: tài trợ tài chính cho người bán hàng (như cho vay hoặc thanh toán trước cho các khoản phải thu); quan lí các giây tờ, số sách kê toán liên quan đền các khoăn phải thu; thực hiện việc thu nợ từ người mua, tiền hành các biện pháp phù hop để giải quyết các hành vi gian lận của người mua. - Bên mua hàng phải được thông báo chính thức bằng văn bản về việc khoản phải thu đã được BTT.
Tại Việt Nam, hoạt động BTT lân dau tiên được quy định tạiQuyết đính của Thông đóc Ngân hàng nha trước V iệt Nam số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 6/9/2004 ban hành Quy chế hoạt động BTT của tổ chức tin dung, hiện nay văn bản pháp luật điêu chỉnh hoạt động BTT của TCTD 1a Luật các TCTD 2010 và Thông tư số 02/2017/TT-NHNN ngày 17/05/2017 của Ngan hang Nhà nước Viét Nam quy định về hoạt động bao thanh toán của tô chức tin dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Theo Khoản 17 Điêu 4 Luật các TCTD 2010: “Bao thanh toán là hình thức cấp tin ding cho bên ban hàng hoặc bền mua hàng thông qua việc mua lại có bảo luu quyển truy đồi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua bản hàng hóa, cing ứng dich vụ theo hop đồng mua, bản hàng hóa, cing ứng dich vu Khái niém này đã có sự bao quát về hoạt động BTT, nó không chỉ đề cập mai về “bên mua hang” ma con dé cập đền cả “bên bán hàng" như vậy khái niệm không ? Xem tại Jhorww uridioit org/irs buments/fac ‘convention! 10 những mở rộng phạm vi chủ thé ma con thể biện được 16 bản chất của BTT. Bên cạnh đó, trong bối cảnh nên kinh tê Viét Nam hôi nhập ngày cảng sâu rông, các hoạt đông nghiệp vu của TCTD phát triển ngày cảng đa dạng, dưới nhiều hình thức và tiên dan dén các thông lê quốc tế, do đó ngày 18/01/2024, Luật các TCTD đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2024. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Luật các TCTD 2024: “Bao thanh toán là hình thức cấp tin dung thông qua viée mua lại khoản phải thu của bên bản hoặc ứng trước tiên thanh toán thay cho bên mua theo hợp đồng mua. cưng ứng dich vụ giữa bên mua và bên bản”.
Có thé thay rằng khái niêm nay đã bỗ di nội dung “có bảo lưu quyên truy đòi” so với luật cũ, điều này thể thiện sự mỡ rộng, hội nhâp với quy định tại các thông lệ quốc tế hiện nay khi cho phép các TCTD có thé thực hiện cả BTT có bảo lưu quyền truy doi và BTT miễn bão lưu quyên truy đời. Mặc dù với nhiều cách diễn đạt khác nhau về BTT nhưng nhìn chung khi nhac về hoạt đông BTT có thể hiểu BTT là một hình thức tải tro thương mai trong đó ngân hàng hoặc các TCTD khác sé mua lại các chứng từ thanh toán, các khoản nơ chưa đáo hạn đề trở thành chủ nợ mới, trực tiếp đứng ra đời nợ người mua hàng Đơn vị BTT đảm bảo wiệc thu nợ, tránh các rủi ro không trả nợ hoặc không có khả nang trã nợ của người mua Đơn vị BTT có thé trả trước toàn bộ hay một phan các khoản nợ của người mua cùng với mét khoản hoa hông tai trợ và phí thu nợ. Dịch vụ BTT thông thường sẽ co sự xuất hiện ít nhất là ba bên, bao gồm đơn vi BTT, ngudi ban và người mua 111. Đặc diém hoạt động BIT Thứ nhất, BTT là hình thức cấp tín dung ngắn hạn của TCTD.
Khi thực hiện quan hệ BTT, TCTD ung trước cho khách hàng một khoản tiền nhật định thập hon giá trị thực tế của các khoản phải thu, khoản phải trả. Phén chênh lậch này là phân. phi và lãi tin dung. Thông thường nhũng khoản phải thu, khoản phải trả có thời han không quá 180 ngày mới được chap nhận BTT bởi mục dich của quan hệ BTT là tình thức tài trợ von lưu đông nên các khoản phải thu, khoản phải trả thường ngắn han.
Hơn nữa BTT cũng là một nghiệp vụ tiềm an rất nhiêu rủi ro, khi thực hiện nghiép vụ nay đơn vị BTT luôn phải gánh chịu moi rủi ro, chủ yêu là rủi ro tin dung liên quan dén các khoản phải thu, khoản phải trả vậy nên thời hạn các khoản phải thu, khoản phai trả ngắn hạn cũng góp phân làm giềm thiểu rủi ro, tôn that tai chính.