phần mở đầu có thé tiếp tục tạo nên sự chờ 12 đợi cho những điển biến tiếp theo. Phần điển biến có thé tạo nên sự chờ đợi đối với kết cục. Trong điều kiện lý tướng, văn bản văn học sẽ đạt đến xoá bỏ hoàn toàn tầm đón đợi của người đọc đê đi đến việc xác lập những kinh nghiệm mới. Theo Jauss, đó là sự thành công của một tác phâm văn học.
Vi vậy trong những trai nghiệm doc, người đọc sẽ liên tục tích luỹ các kinh nghiệm mới. Các kinh nghiệm này sẽ thay đôi chân trời chờ đợi của người đọc. Như vậy, trong mỹ học tiếp nhận của Jauss, không thé có một ý nghĩa vĩnh viễn nào của một tác phẩm, ké cả các tác phâm kinh điện, vi chân trời chờ đợi của người đọc luôn thay đôi theo hành trình tích luỹ kinh nghiệm đọc. Quá trình tích luỹ điễn ra cả trong lúc đọc một tác pham và trong suốt những trải nghiệm đọc khác của người đọc.
Nói cách khác, cùng một tác phẩm, trong những điều kiện, thời điểm đọc khác nhau, bản thân một người cũng có thê đưa ra nhiều cách hiểu. Khái quát về hiện tượng văn học giải huyền thoại tại Việt Nam 1. Khái niệm huyền thoại và giải huyền thoại 1. Khái niệm huyền thoại Huyền thoại (tiếng Anh: myth) xuất phat từ gốc Hy Lap mythos, có nghĩa là nói.
Xét về khía cạnh từ nguyên, mythos là lời nói mờ hd, tối nghĩa vì nội dung của chúng bị che lap đằng sau những thứ vụn vặt, linh tinh khác mà cần người nghe phải giải mã dé hiệu được ân ý. Theo Meletinsky (2004), huyền thoại là một khái niệm đẻ chỉ những câu chuyện mang tính hoang đường mà người cô đại sử dụng dé lý giải về thé giới. Trong đó, các hiện tượng hay sự vật tự nhiên có hình dạng và tư duy như con người, có sức mạnh thần thông dé tạo lập và chi phối sự tồn tại của nhân loại. 13 Huyền thoại gắn liền với tư duy cô xưa.
Theo lối tư duy nay, con người chưa hoàn toàn tách rời ý thức của mình khỏi tự nhiên. Vì thé, họ đưa những đặc điểm của mình vào các vật thé xung quanh. Đồng thời, nỗi sợ hãi trước sức mạnh của tự nhiên cùng sự bất lực của nhân loại trước cuộc chiến chống lại những nguy hiểm đến từ thế giới bên ngoài khiến cho con người vô thức “than hoa” tự nhiên. Huyền thoại gắn liền với tư duy huyền thoại.
Nói cách khác, các huyền thoại được tạo thành bởi tư duy huyền thoại và các huyền thoại tồn tại khi tư duy huyền thoại còn tồn tại. Nhà nghiên cứu người Nga Melentisky - nồi tiếng với những nghiên cứu về huyền thoại - trong công trình Thi pháp ctia huyền thoại, đã trình bày những đặc trưng cơ bản của tư đuy huyền thoại như sau: Thứ nhất, “tw duy huyền thoại là hệ quả của hiện tượng người “nguyên thuy” còn chưa tác nổi bản thân mình một cách minh xác ra khỏi thé giới tự nhiên xung quanh (2004: 213). Người nguyên thuỷ trong giai đoạn tư duy so khai vừa sợ hãi vừa khao khát tìm hiểu thế giới tự nhiên. Hệ quả là những tìm hiểu không đạt đến bản chất.
Điều này càng làm gia tăng nỗi e ngại trong con người. Vì thế, họ tạo ra hình tượng các vị thần và gán cho các hiện tượng tự nhiên những đặc điểm giống với con người. Hiện tượng nhân cách hoá một cách ngây thơ này phản ánh sự thiếu hiểu biết và nhận thức không rõ ràng giữa chủ thê (người nguyên thuỷ) và khách thê (tự nhiên). Thứ hai, “su phát triển hết sức yếu ớt các khái niệm trừu tượng (được các dit liệu ngôn ngữ tộc người chứng minh rộng rãi) là ban tính của tu duy nguyên thuy” (2004: 214).
Các khái niệm trừu tượng là cơ sở của tư duy logic. Vì thể, tình trang phát triển chậm chap của chúng trong tư duy người nguyên thuỷ khiến cho hoạt động tư duy logic trở nên phức tạp hơn khi phải dựa vào những 14 dữ kiện trực quan cụ thé. Điều này có nghĩa là tư đuy huyền thoại mang tính chất của tư duy cụ thé, cảm tính. Mỗi dân tộc đều có cho mình những huyền thoại.
Tập hợp những huyền thoại này tạo thành một hệ thống các câu chuyện mang màu sắc hư ảo. Qua đó, dân tộc ay thé hién những lý giải của mình về sự tạo lập của thé gidi va thé hién cả những đặc trưng trong tu duy của cộng đồng. Xét trong mối liên hệ với văn học, có thể xem huyền thoại là hình thức sáng tác văn học cô xưa nhất. Những cộng đồng tiền sử đã hình tượng hoá tự nhiên đề thé hiện nhận thức sơ khai vẻ thé giới.
Về sau, các huyền thoại trở thành chất liệu quan trọng của sáng tác văn học. Huyền thoại cung cấp cho văn học một thé giới các biéu tượng quen thuộc và giàu ý nghĩa. Điều này đã giúp cho các huyền thoại duy trì được tính ôn định trong tâm thức cộng đồng. Với sự gợi ý từ khái niệm huyền thoại của Meletinsky, đặt trong bối đương đại, huyền thoại có thé mở rộng phạm vi sang các hình tượng, các nhân vật, các ý niệm đã được thần thánh hoá qua thời gian.
Nói cách khác, các hình tượng, nhân vật, ý niệm mang tính thiêng trong nhận thức của con người cũng đều có thê được xem là các huyền thoại (theo nghĩa mở rộng). Một trong số đó là các anh hùng lịch sử. Đối với bất kỳ dân tộc nào trên thế giới, những nhân vật có công lao lớn đối với quá trình xây dựng và phát triển dân tộc sẽ được cộng đồng tôn vinh. Những sự tôn vinh kéo dai trong chiều đài lịch sử sẽ tạo nên tính thiêng liêng trong tư duy về nhân vật đó.
Một số nhân vật còn có thé được thành thánh hoá và trở thành một phan tín ngưỡng dân gian, được lập đền thờ. Ví dụ như vua Hùng Vuong, Lý Thường Kiệt, Trần Hung Đạo, Dinh Tiên Hoàng. Vì vậy, các anh hùng lịch sử cũng có thẻ được xem là huyền thoại. Khái niệm giải huyền thoại Giải huyền thoại (demythologizing) là một thuật ngữ chỉ một phương thức sáng tác.
Theo Meletinsky, “rong tiéu thuyết huyện thoại hoá ở thé kỷ XX, sự gieu nhại và tính chat carnaval trái lại thể hiện một sự tự do không hạn chế của nhà nghệ sĩ hiện đại đổi với hệ biểu tượng truyền thon g từ lâu mắt tinh bắt buộc của chúng nhưng hãy còn giữ được sự hấp dan với tư cách là phương tiện ân dụ hoá những yếu tô của ý thức hiện đại được các nhà văn tiếp nhận nh là những yếu tổ vĩnh cửu và phố quát" (2004: 450). Nhận định này được tác giả phát biểu khi nhận xét về hai trường hợp tiểu thuyết gia huyện thoại hoá là Joyce và Thomas Mann. Có thé xem nhận định này như cách giải thích rõ ràng về phương thức sáng tác giải huyền thoại. Như vậy giải huyền thoại được hiểu như sau: Thứ nhất, giải huyền thoại có tiền đề là các chất liệu huyền thoại.
các huyền thoại phải được thê hiện lại trong tác phẩm như một chất liệu của quá trình sáng tạo. Thứ hai, giải huyền thoại nghĩa là các huyền thoại được đề cập không thể giữ hình thái ban dau của chúng. Thay vào đó, các huyền thoại có thé được người nghệ sĩ sáng tạo tự do. Thậm chi, các nhà văn có thê biến đôi, giéu nhại và hạ bệ các huyền thoại.
Mục đích của việc này là biến các huyền thoại cố định, thiêng liêng thành những ân dụ cho những gì xảy ra ở thời kỳ hiện tại. Như vay, giải huyền thoại là phương thức sáng tác nhằm làm xoá bỏ đi tính chất linh thiêng của các biéu tượng, đưa các huyền thoại đến gần hơn với đời sông mang tính thời đại. Hiểu một cách chính xác, giải huyền thoại không phải là xoá bỏ đi các huyền thoại, làm nó biến mat khỏi đời sống hiện tại. Thay vào đó, các nhà văn sẽ sáng tạo dựa trên nền cũ nhằm làm mới các huyền thoại, để chúng trở nên 16 gan gũi và chuyên tai được tu duy của cá nhân hay cộng đồng hiện tại.
Điều này thé hiện một cách tư duy mới về những giá trị đã có sẵn dưới sự tác động của ý chí chủ quan và hoàn cảnh xã hội. Bối cảnh ra đời của hiện tượng văn học giải huyền thoại tại Việt Nam Phương thức sáng tác giải huyền thoại đã được vận dụng ở các nước từ thế kỷ XX. Phương thức này đã quen thuộc với người đọc và người sáng tạo các nước. Tuy nhiên đến cuối thế kỷ XX, phương thức này mới được vận dụng tại Việt Nam.
Điều này thé hiện những nhu cầu mới trong sáng tạo và sự thay đổi của bối cảnh lịch sử tác động đến tư duy của nha văn Văn học Việt Nam những năm 1945 - 1975 mang trong mình một nhiệm vụ lớn lao — cô vũ cách mạng. Những nhà nghiên cứu văn học tai Việt Nam đã khái quát đặc trưng của giai đoạn văn học này bằng tám từ: “khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn”. Với chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ và chiến dịch Hồ Chí Minh vào mùa xuân năm 1975, nước ta bước vào giai đoạn độc lập và tự chủ. Lúc bay giờ, nhiệm vụ chính của toàn thê người dân là xây dựng lại đất nước từ sau đồng đô nát của chiến tranh.
Hoàn cảnh thay đôi dẫn đến những nhu cầu mới trong đời sống tinh than của cả người nghệ sĩ lẫn người thường thức nghệ thuật. Tuy nhiên, lối viết vẫn như cũ. Những tác phâm văn học sau năm 1975 vẫn xoay quanh đề tài chiến tranh, người lính và giọng điệu ngợi ca. Như vậy, các tác phâm đã không đáp ứng được nhu cầu mới của công chúng.
Đại hội lan thứ VI của Dang (năm 1986) đề cao tinh thần phê bình, tự phê bình và kêu gọi nhìn thăng vào sự thật, nói đúng sự thật. Các nhà văn phải viết theo những gì hiện thực vốn có chứ không phải theo sự mong muốn cá nhân. Điều nay rat đúng tinh than mà Nguyễn Minh Châu đã từng dé ra trong bài tiểu 17 luận mang tinh tuyên ngôn Hay đọc lời ai điêu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa của minh. Nhờ sự “mở đường” của những nhà văn bạo dạng và chính sách văn hoá chính quy của Dang, văn học được “coi trói”.
Một trong những sự “coi trói” rõ ràng nhất là van học xoay về phía của cá nhân. Văn học trở lại xem trọng con người cá nhân với những van đề mang tính thé sự và cái tôi riêng biệt của người cam bút.