Chương 1: Sự cần thiết của đề tài, mục dich và ý nghĩa của đề tài Chương 2: Cơ sở xác định hiệu quả kinh tế và các phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Tổng quan của Huyện Châu Thành, Tỉnh Tiền Giang và tình hình trồng vú sữa của Huyện Chương 4: Tính toán phân tích và tổng hợp số liệu điều tra đưa ra kết quả nghiên cứu và thảo luận về : Hiện trạng cây vú sữa trên địa bàn Đặc điểm kinh tế kỹ thuật Giá trị dinh dưỡng trái vú sữa Hiệu quá kinh tế Các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu cây vú sữa Biện pháp canh tác cho cây vú sữa Chương 5: Kết luận về tình hình trồng vú sữa của nông dân Huyện Châu Thành và đề xuất ý kiến để phát triển vùng trồng cây vú sữa. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGH IÊN CỨU 2. Cơ sở lý luận Vú sữa là loại cây ăn trái đặc sản của Tiền Giang, được trồng tập trung ở các xã ven sông Tiền của huyện Châu Thành nhự Song Thuận, Kim Sơn, Vĩn h Kim, Bàn Long, Phú Phong, Long Hưn g, Binh Trưng,.
và một số xã khác. Vú sữa dé trồng, năng suất cao, giá ổn định nên tron g một vài năm trở lại đây, điện tích vú sữa ngày càng tăng. Giống Vú sữa (Chrysophyllum cainito L) là một trong những loại trái cây rất được ưa chuộng nhờ phẩm chất ngon và giá trị dinh dưỡng cao, vú sữa được trồng ở nước ta từ rất lâu đời với nhiều giống khác nhau trong đó có vú sữa Lò Rèn là giống nỗi tiếng nhất. Quả vú sữa Lò Rèn có trọn g lượng trung bình 250 -350g, thịt quả khi chín rất ngon.
Da phan vú sửa Lò Rèn là giống phé biến hiện nay, vì chất lượng và hình dạng, màu sắc rất được ưa chuộng của người tiêu dùng. Qua điều tra 2004, vú sữa được trồng nhiều ở các vùng như Sóc Trăng (100 ha), Đồng Tháp (36 ha), Tây Ninh (148 ha). Tro ng khi đó ở Tiền Giang diện tích vú sửa là lớn nhất 1866,66 ha và tập trung ở vùng Châu Thành - Tiền Giang. Hầu như đa phần người dân sử dụng giống vú sữa Lò Rèn để canh tác và đưa ra thị trường.
Vú sữa Lò Rèn: Có nguồn gốc xã Lon g Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Đây là giống vú sữa có năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất, năng suất 1000 — 1500 trái/cây/năm ở cây trên 10 năm tuổi, trọng lượng trái 200 — 300 g/trái, vỏ trái khi chín có màu hột gà, tươi bóng, đẹp, phẩm chất trái rất ngon, được thị trường trong nước ưa chuộng và có giá trị cao nhất so với các giố ng khác. Hiện nay, giống vú sữa Lò Rẻn Vĩnh Kim được Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Tiền Giang ban hà nh tiêu chuẩn cơ sở về chất lượng của giống vú sữa này, quả có dạng hình cầu hoặc hình cầu hơ i thuôn. Màu sắc quả vàng nhạt, hoi img hồng, chiế m 1/3 -3/4 diện tích vỏ qu ả tính từ phía đáy lên cuốn g, phan vỏ còn lại có màu xanh nhạ t, bóng, dài, mềm, nhiều nước, vị ngọt béo, mùi thơm.
Thịt quá có độ Brix > 13,5%, axit 0,77 ~0,09 %, PH 5,8 5,8 — 6,2 tỉ lệ Brix/axit >120, axit ascorb ic >3,0 mg/100g. Vú sữa Lò Rèn đầu tiên được một nông dan ở vù ng Vĩnh Kim trồng nên được mang tên vú sữa Lò Rèn. Từ đó đến nay, nó đư ợc trồng rải rác ở một số vùng Đồng Bằng Sông Cứu Long như huyện Châu Thàn h tỉnh Tiên Giang. Cho đến nay, vú sữa Lò Rè n được trồng tập trung ở cá c xã Bàn Long, Vĩnh Kim, Kim Sơn, Phú Phong, Sông Thuận, Bình Trưng, Đông Hòa, Long Hưng và Hữu Đạo, với điệ n tích 1367 ha, sản lượng hà ng năm khoảng 20000 tấn, đáp ứng tiêu thụ nội địa và xuất khẩu.
Cây Vú Sữa Lò Rè n ở Xã Vĩnh Kim Huyện Châu Thành > c~ Ngoài ra, còn có các giống vú sữa Tím, vú sữa Nâu, vú sữa Vàng, vú sữa Bánh Xe. Các giống này có năng suất thấp và phẩm chất kém nhưng thường chín sớm hơn so với vú sữa Lò Rèn. Hiện nay những giống này thường ít xuất hiện trên thị trường trong và ngoài nước, có khuynh hướng thoái hoá din do tuổi vườn quá lâu đời. Qua kết quả điều tra của Viện Nghiên Cứu Cây Ăn Quả Miền Nam nước ta có 6 giống vú sữa chính với sự khác nhau về trọng lượng được phản ánh qua bang 1: Bang 1.
Một Số Giống Vú Sữa Được Trồng Phé Biến Tên giống Trọng lượng (gram) Lò Rèn 500 — 600 Vàng 350 — 400 Nâu Bách Thảo 300 — 350 Nau Tim 200 — 250 Banh Xe 200 — 250 Vú Bò — 180 150 Nguôn: Viện Nghiên Cứu Cây An Quả Miễn Nam Hình 2. Vú Sữa Nâu Tím Nguồn: Viện Cây Ăn Quả Miền Nam Bảng 2. Nguồn Gốc Giống Vú Sữa Qua 60 Hộ Điều Tra tại Huyện Châu Thành Nguôn gốc Ý kiến của hộ điều tra (lân) Cơ câu (%) TT ging 0 0.70 Nông hộ khác 34 39.00 Nguôn: DT - TTTH Qua điều tra cho thấy nông dan trên địa bàn Huyện không lay giống từ TT giống. Nguồn gốc giống vú sữa chủ yếu đo nông hộ tự để hoặc lấy từ nông hộ khác.
Nông hộ tự để giống sẽ tiết kiệm được phần nào chỉ phí giống trong năm đầu kiến thiết, không phải tốn công vận chuyển giống từ xa. Ngoài ra nhà sản xuất cũng có thể lấy giống từ nơi khác như các trại cây giống ở xã Vĩnh Kim, chợ Vinh Kim, hoặc họ cũng có thé đặt trước số giống cần sử dụng dé trồng ở những xã khác. Yêu cầu sinh thái Cây Vú Sữa trồng thích hợp trong điều kiện nhiệt đới, nhiệt độ 22 — 34°C, chi ra hoa tốt trong điều kiện có 2 mùa mưa nắng phân biệt và không chịu được gió to do'cây có tán lá dày và rễ nông. Yêu cầu đất đai: Đất phù sa ven sông, đất thịt nhẹ, thoát nước tốt, ít chua, PH: 5,5 — 6,5, cao độ không quá 400m.
Kỹ thuật trồng và chăm sóc Vú sữa có thể trồng quanh năm, tuy nhiên nên trồng vào đầu mùa mưa để đỡ công tưới nước cho vú sữa trong giai đoạn đầu và có thời gian chuẩn bị đất. - Thiết kế vườn - Đào mương lên líp: Đây là khâu rất quan trọng vì làm tốt khâu này vú sữa mới phát triển tốt, năng suất cao, dam bảo tuổi thọ vườn cây. Nếu trồng mới trên đất ruộng nên lên mô có đường kính thay đổi từ 0.6m, tuỳ theo địa hình của từng nơi. Đất mô là đất mặt của ruộng và được phơi khô từ 15 — 20 ngày.
- Dé bao, cống và cây chắn gió: Cây vú sữa không chịu ngập và rất cần đủ âm để phát triển tốt trong các năm đầu tiên sau khi trồng. Do đó cần phải có bờ bao và cống để chủ động tưới tiêu, đảm bảo mặt líp hoặc mô phải cao hơn mặt nước trong mương, ruộng từ 50 — 80cm. Ngoài ra do cây vú sữa dé bị tét nhánh hay lật gốc, do đó cân phải chú ý đến trồng cây chắn gió, đặc biệt là những. vườn ven sông lớn.
- Mật độ và khoảng cách trồng: Tuỳ theo chiều rộng mặt líp và bố trí số hàng cây. Với líp rộng 7 — 8m thì bố trí trồng một hàng cây ở giữa líp, khoảng cách 10m/cây, mật độ 10 cây/1000m2. Có thể trồng xen rau màu hoặc cây ăn trái ngắn ngày trong 1 — 3 năm dau để tang thu nhập. Trồng và chăm sóc Chuan bị hồ và cách trồng Sau khi đã chuẩn bi mô trước đó 15 — 20 ngày, dao hố nhỏ sâu 20 — 25cm, trộn đều lớp đất này với 1 thing hữu cơ hoai, 100g DAP va 200 — 300g phân lân/cây.
Đặt bầu cây thắng đứng, cắt bỏ vỏ bầu và để mặt bầu ngay với mô trồng, sau đó lắp đầy hố. Cây sau khi trồng cần cắm cộc cố định cho cây và che nắng. - Tủ gốc giữ ẩm: Rễ vú sữa thường ăn nông, nhiệt độ của đất cao vào mùa nắng sẽ ảnh hưởng đến bộ rễ, do đó cần phải tủ gốc giữ ẩm bằng rơm ra, cỏ khô dé giữ 4m cho đất. Nên tủ gốc dé tránh sâu bệnh tấn công.
- Làm có và trồng xen: Nên làm cỏ thường xuyên trong các năm đầu để hạn chế sya cạnh tranh đinh dưỡng và loại bỏ sự trú ẩn của sâu bệnh. Đến năm thứ 4 trở đi tán cây rộng dần và công làm cỏ sẽ giảm. Để giảm bớt công làm cỏ và tưới nước trong các năm đầu tiên nên dùng rơm rạ phủ gốc và trồng xen một số cây ngắn ngày khác để tăng nguồn thu nhập. - Bồi bùn: Hằng năm cần bồi bùn vào mô trồng, nên tiến hành phơi khô bùn sau khi vét mương rồi sau đó bồi vào mô.
Công tác bồi bùn cần tiến hành thường xuyên hàng năm, ngay cả khi cây đã lớn và sau khi định hình mương líp hoàn chỉnh. Việc vét mương bồi lip vừa có tác dung cải tạo hệ thống mương tưới: tiêu, nâng cao dần mặt líp, vừa có tác dụng cung cấp một phần đỉnh dưỡng cho cây vú sữa. - Tưới tiêu nước: Cần cung cấp nước đầy đủ cho cây vú sữa, đặc biệt trong 3 năm dau. Trong các tháng nắng nên tưới định ky 1 — 2 lần/tuần.
Cần xây dựng hệ thống bờ bao chung quanh vườn và trong l — 2 năm đầu, cần giữ mực nước cách mô trồng tối thiểu 40cm. - Tỉa cành, tạo tán: Trong các năm đầu nên tỉa bớt cành, chỉ để lại các cành phân bố đều theo các hướng. tạo cho cây có tán tròn đều và khống chế chiều cao không vượt quá 4 — 4,5m. Cắt bỏ cành vượt trong tán, cành sâu bệnh, cành phụ ốm yếu mọc liên tiếp trên cùng một cành chính, cành mọc gần mặt dat.
Vào sau mỗi vụ thu hoạch cần tỉa các cành mọc đứng bên trong tán, cành rũ, cành ốm yếu, sâu bệnh dé giúp cây thông thoáng và sớm ra chdi mới. Đối với vườn có độ tuổi từ 20 năm trở lên, cây cao quá 6m nên tiến hành trẻ hoá cho cây. Kỹ thuật trẻ hoá nên được áp dụng liên tiếp trong 3 — 4 năm, mỗi năm trên từng phần của cây để đảm bảo mức thu nhập. - Bón phân: Bón phân thời kỳ kiến thiết cơ bản: Từ khi trồng đến 1 năm, hàng tháng tưới phân Urê với liều lượng 20 — 30 gram/cây/lần.
Từ 1 — 3 năm tuổi bón từ 1 — 2 kg hỗn hợp phân Urê, DAP (18 — 46 — 0) và NPK (16 — 16 — 8) với tỷ lệ 1:1:1, liều lượng tăng dan theo tuổi cây, chia 4 lần bón trong 1 năm.