Chương 1: Cơ sở lí luận của dé tài. Chương 2: Thiết kế tiên trình day học theo mô hình lớp học đảo ngược nội dung “Cong, năng lượng, công suất”. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. CƠ SỞ LÍLUẬN CUA ĐÈ TÀI 1.
Tông quan nghiên cứu Lớp học đảo ngược được phát triển từ nghiên cứu “From Sage on the Stage to Guide on the Side” năm 1993 tại Mỹ. dựa trên cơ sở đó đã có rất nhiều công trình nghiên cứu vẻ lớp học đảo ngược trên thế giới như vào năm 2014 công trình “Flipped Classroom: Gateway to Student Engagement” của Jonathan Bergmann va Aaron Sams. Các tác gia đã đưa ra khái niệm về lớp hoc đảo ngược và mô tả cách ma phương pháp này có thé tạo ra sự tương tác tích cực giữa GV và HS (Jonathan Bergmann & Aaron Sams, 2014). Cùng năm đó công trình “The Flipped Classroom: A Course Redesign to Foster Learning and Engagement in a Health Professions School” của Krista M.
Rompolski và cộng sự được xuất ban (Jacqueline E. Day là nghiên cứu này mô ta việc áp dụng lớp học đảo ngược trong một trường y khoa và làm nôi bật sự ảnh hưởng tích cực của phương pháp này đối với sự tham gia va học tập của sinh viên. Tiếp theo là nghiên cứu "Flipped Learning: A Guide for Higher Education Faculty" của Robert Talbert (2017): đây là cuốn sách tập trung vào việc áp dụng phương pháp lớp học đảo ngược trong giảng dạy đại học và cung cấp các hướng dẫn chi tiết về việc triển khai và quản lý lớp học dao ngược (Robert Talbert & Jonathan Bergmann, 2017). Tai Việt Nam, trong phạm vi môn Vật lí, vào năm 2017, tac gia Kiên Thi Bich Trâm đã nghiên cứu “T6 chức day học chương Cân bằng vật rắn Vật lí 10 trung học phố thông theo hình thức lớp học đảo ngược nhằm bồi dưỡng năng lực hợp tác của HS”.
Dé tài này được nghiên cứu với mục đích bồi đưỡng năng lực hợp tác cho HS, tác giả đã thực hiện dạy học với sự hỗ trợ của Youtube đề cung cấp bài giảng cho HS, việc đánh giá năng lực HS cũng được tác giả thực hiện chi tiết, có biểu đồ minh họa va số liệu rõ rằng và đáp ứng được giả thiết bồi dưỡng năng lực hợp tác của HS. Cùng năm đó tác giả Lê Lương Vũ đã nghiên cứu “Van dụng phương pháp Flipped Classroom dạy học kiến thức chương khúc xạ ánh sáng — Vật lí 11 cơ bản”. Trong nghiên cứu này tác giả đã sử dụng Youtube dé cung cấp bài giảng đến với HS và dùng Google Form dé thu thập số liệu, ngoài ra HS được thực hiện thí nghiệm trên lớp. Kết quả cho thấy việc áp dụng mô hình lớp học đảo ngược là khả thi ở thời điểm năm 2017.
Tuy nhiên vẫn chưa có đánh giá định lượng cụ thé, dé tài sẽ hoàn hảo hơn nếu có thêm nên tảng học tập trực tuyến và các đánh giá định lượng. Năm 2019, tác giả Phùng Thu Hang đã nghiên cứu “Vận dung mô hình Flipped classroom vào dạy học chương Chất Khí, Vật lí 10 nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh”. Trong công trình nghiên cứu nay, tác giá đã ứng dụng một số ứng dụng như Google Classroom, iMindmap 10, Camtasia dé hỗ trợ day học theo mô bình lớp học đáo ngược. Qua những kết dit liệu thu thập được trong quá trình thực nghiệm sư phạm, tác giả đã khăng định rằng việc áp dụng mô hình lớp học vào dạy học Vật lí góp phần phát triển năng lực tự học của HS, đồng thời tác giả 6 cũng đưa ra định hướng tiếp tục tục nghiên cứu mô hình lớp học đảo ngược (Phùng Thu Hang, 2019).
Tiếp đến vào năm 2020, tác giả Đoàn Thị Thu Trang đã nghiên cứu “Tô chức day học một số kiến thức chương “Am hoc” - vật lí 7 theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực khoa học tự nhiên của học sinh”. Trong dé tài nảy tác giả đã áp dụng mô hình lớp học đảo ngược với sự hỗ trợ của một số công cụ như Google Form, Live Worksheet, Facebook, Nearpod,.Kết quả là nghiên cứu này đã thành công trong việc nâng cao chất lượng học tập và đặc biệt là phát triển năng lực khoa học tự nhiên của HS trung học cở sở với sự hỗ trợ của các công cụ trực tuyến (Đoàn Thị Thu Trang, 2020). Cũng cùng năm 2020, tác giá Nguyễn Thị Thảo Duy đã nghiên cứu đề tài “Vận dụng mô hình Flipped Classroom vào dạy học chương Chất khí - Vật lí 10 với sự hỗ trợ của Google Classroom nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh”. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã ứng dụng một số ứng dụng như Google Classroom, Microsoft Offic Mix, Wondershare Filmora9 đề hỗ trợ dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược.
Qua những kết dit liệu thu thập được trong quá trình thực nghiệm sư phạm, tác giả đã khang định rằng giả thiết khi “Ap đụng mô hình lớp học vào day học Vật lí góp phan phát triển năng lực tự học của học sinh” là đúng din và có cơ sở dé tiếp tục nghiên cứu (Nguyễn Thị Thảo Duy, 2020). Trên đây là danh sách các nghiên cứu về lớp học đảo ngược, các nghiên cứu được chia làm 2 nhóm: nhóm chưa sử dụng hệ thong học tập trực tuyến và nhóm đã sử dụng được hệ thông học tập trực tuyến tích hợp kiểm tra đánh giá. Tuy nhiên, đa số các đề tài vẫn chưa thực hiện cho HS tương tác trực tiếp trên bài giảng. Vì vậy, dé thay rõ được việc tương tác của HS trên bai giảng và tích hợp nhiều tính năng khác như trò chơi, thu nhận phan hoi, kiểm tra đánh giá trên cùng một hệ thông học tập thì LMS 360 - hệ thông E-learning do Sở giáo dục và Đảo tạo TP.HCM quản lí là một hệ thống có thé đáp ứng, đây cũng là hệ thong đang được sử dụng và phát triển ở các trường trung học phô thông.
Nhưng dé dé dang trong việc thực hiện, dé tai cũng có thé sử dụng các công cụ trò chơi và thu nhận phản hôi khác dé đáp ứng được tình hình lớp học và mục đích thu thập số liệu của GV. Nhìn chung lại, ưu điểm của hệ thong LMS 360 là sự tương tác và quản lí chặt chẽ HS. Vì vậy dé tai này hướng đến việc sử dụng hệ thông LMS 360 làm nên tảng học tập kết hợp với một số công cụ hỗ trợ khác dé góp phan nâng cao sự tập trung và bồi đưỡng năng lực tự học của HS. Lớp học đảo ngược 1.
Lịch sử hình thành Khái niệm lớp học đảo ngược được xuất hiện từ nghiên cứu “From Sage on the Stage to Guide on the Side”, xuất bản năm 1993, tác giả Alison King đã khang định rang các giảng viên trong các trường đại học đóng vai trò trung tâm của lớp hoc, họ truyền đạt kiến thức một chiều và dạy các bài học và HS có thể không cần suy nghĩ và hoạt ? động quá nhiều mà chỉ tiếp nhận thông tin từ giảng viên. Cô ấy gọi nó là “Mô hình truyền tai” (Alison King, 1993). Dé thực hiện mô hình này, cần có sự thay đổi vai trò của GV từ việc đóng vai trò trung tâm của lớp học dé trở thành người hướng dan, đồng hanh cùng HS trong suốt quá trình học tập và lĩnh hội kiến thức (Agirman, N & Ercoskun, M. Tiếp đó, vào năm 1997, Eric Mazur - giáo sư tại Dai học Harvard, đã phát triển chiến lược giảng dạy mang tên “Hướng dẫn đồng đăng”.
Sau khi biết các khái niệm cơ bản, chiến lược này, trong đó bài học được thực hiện thông qua giảng dạy đồng đẳng có nghĩa là giáo viên và học sinh trong lớp học đóng vai trò như nhau, đây là chiến lược đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các khái niệm liên quan đến mô hình lớp học đảo ngược (Catherine H. Crouch & Eric Mazur, 2001). Đến năm 2000 thì mô hình lớp học đảo ngược bát đầu được thẻ hiện dưới dạng khái niệm. Có hai nghiên cứu được công bố vẻ chủ dé này trong cùng một năm.
Đầu tiên, tại Đại hoc Cedarville, Tiền sĩ J. Wesley Baker, đã nhắn mạnh sự cần thiết đề thực mô hình này là sự kết nỗi giữa sư phạm và công nghệ. Ông đã giải thích mục đích của mô hình này, mà ông gọi là lớp học dao ngược (J. Trong cùng năm đó, các học gia Maureen J.
Platt và Michael Treglia của Đại học Miami cũng đã sử dung mô hình lớp học dao ngược dé đáp ứng nhu cau của những sinh viên có phong cách học tập khác nhau và không có đủ số giờ học cho toản bộ nội dung khóa học. Họ đã thực hiện quy trình mà họ gọi là lớp học đảo ngược (Lage M. Việc sử dung rộng rãi mô hình lớp học đảo ngược diễn ra khoảng 7 năm sau khi ap dụng Baker (2000) va Lage (2000). Jonathan Bergmann va Aaron Sams - hai giảng viên hóa học tại trường trung hoc Woodland Park, Hoa Kỳ năm 2007, đã chia sẻ các bài thuyết trình PowerPoint họ sử dung trong bài học và các video họ quay khi day bài trên internet dé truyền tải bài học một cách day đủ va chỉ tiết nhất cho những sinh viên khi các em không thẻ đến lớp (Agirman, N & Ercoskun, M.
Sau này, khi họ nhận ra rằng lớp học đảo ngược có một số ưu điểm so với cách dạy truyền thống, họ nghĩ rằng mô hình này có thé áp dụng cho tat cả sinh viên, không chỉ những sinh viên không thé tham gia khóa học. Trong những năm tiếp theo, Bergmann và Sams đã xuất bản một số cuốn sách về mô hình lớp học đảo ngược dé khang định rang họ đã góp phan vào việc đưa ra khái niệm đầy đủ hơn về lớp học đảo ngược (Agirman, N & Ercoskun, M.1 mô tả quá trình phát triển của mô hình lớp học đảo ngược. Tóm tắt quá trình phát triển của lớp học đảo ngược 1. Các yếu té cau thành nên lớp học đảo ngược Lớp học đảo ngược hay FLIPPED Classroom, mỗi chữ cái trong FLIPPED tượng trưng cho các phạm vi nhỏ hon (Yildirim, F.
F - Flexible Environments - Môi trường linh hoạt: người học được lựa chon thời gian, địa diém học cũng như phương pháp học tập va tốc độ học tập. L— Learner - Centered Approach - Phương pháp tiếp cận lay người học làm trung tâm: GV không đóng vai trò chủ đạo, thay vảo đó HS là đối tượng được đặt vao trung tâm. Với các tiếp cận này, HS có thẻ thấy được kết quả và sự tiến bộ của bản thân, góp phan khuyến khích HS tự định hướng va đưa ra cho mình phương pháp học tập tối ưu.