CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG VÀ NGUỒN THU TỪ DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG 1. Tính cấp thiết của việc nâng cao nguồn thu từ DVPTD Hơn 10 năm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), VN đã thực hiện thành công chính sách mở cửa sâu rộng trong lĩnh vực NH, cho phép các NH 100% vốn nước ngoài thành lập tại VN và khuyến khích các NH trong nước tìm kiếm các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài để tăng vốn, cải thiện công nghệ và nâng cao trình độ quản lý rủi ro. Sự thâm nhập ngày càng tăng của các NH nước ngoài theo lộ trình mở cửa của các hiệp định thương mại tự do đã và đang đặt ra một số thách thức cho NH trong nước: Các NH nước ngoài mạnh hơn về quy mô, thường tiên phong trong việc áp dụng công nghệ hiện đại, giới thiệu SP DV mới, áp dụng hệ thống phần mềm công nghệ hiện đại để quản trị NH và để nâng cao chất lượng DV. Do đó, để có thể cạnh tranh với các NH này, các NHTM trong nước có xu hướng tăng cường áp dụng phương thức quản trị và công nghệ hiện đại trong HĐ NH, nâng cao chất lượng DVPTD.
Bên cạnh đó trong khuôn khổ tái cấu trúc ngành NH, xây dựng hệ thống NH VN lành mạnh, NHNN đã chủ động xây dựng lộ trình triển khai và áp dụng Basel II vào công tác thanh tra giám sát từ năm 2014. Cuối năm 2017, nhiều NH phải giảm quy mô TD để đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo Basel II. Theo thống kê của tác giả từ BCTN của các NHTM, hiện nay LN chủ yếu đến từ TD, thu DVPTD chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ, từ 9-11% tổng TN của NH. Với điều kiện thị trường ngày càng phức tạp, HĐ TD có quá nhiều rủi ro nên nếu chỉ dựa vào nguồn thu từ TD sẽ ảnh hưởng đến LN NH nếu không quản trị TD tốt.
Cũng cần phải nói thêm rằng, việc NH đẩy mạnh tăng thu từ DV một phần lớn do nhu cầu của KH ngày càng cao. Chỉ xét riêng trong lĩnh vực TT, TS. Nguyễn Trí Hiếu cho biết, NH buộc phải phát triển công nghệ hiện đại nhằm giữ chân KH, mở rộng mạng lưới KH của mình. Công nghệ thời kỳ 4.0 sẽ hỗ trợ rất nhiều trong thu phí từ DV, nhưng nó cũng đòi hỏi nguồn đầu tư tương đối lớn từ phía NH.0 sẽ làm thay đổi hoàn toàn kênh phân phối và các SP DV ngân hàng truyền thống, kênh bán hàng qua internet, mobile banking, tablet banking, mạng xã hội.
phát triển ngân hàng số và giao dịch không giấy tờ sẽ là xu thế. KH sẽ có thể lựa chọn giữa các nhà cung ứng DV tài khoản TT như các định chế NH, hay đơn giản chỉ lựa chọn các nhà 4 cung ứng ví điện tử. Điều đó cũng có nghĩa, việc nhanh chóng nắm bắt xu hướng công nghệ mới có ý nghĩa sống còn với các NH hiện nay. Và BIDV- NHTMCP uy tín với hơn 60 năm HĐ cũng không nằm ngoài xu hướng đó.
Trong những năm gần đây BIDV đang dần tiết giảm các chi phí HĐ, đặc biệt là chi phí trích lập dự phòng theo hướng kiểm soát TD chặt chẽ, mặt khác đẩy mạnh các SP DV công nghệ để tăng TN từ các khoản phí DVPTD. Tuy nhiên cho đến nay, trình độ công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao còn chưa được phát huy tối đa để đem lại hiệu quả tương xứng với năng lực và lợi thế của BIDV. Nâng cao nguồn thu DVPTD không chỉ giúp BIDV tối đa hóa LN mà còn có ý nghĩa thúc đẩy nền kinh tế tri thức phát triển. Gia tăng tỷ trọng thu từ DVPTD trên tổng LN trong bối cảnh kinh tế hiện nay là hết sức cần thiết với BIDV.
Kết quả các công trình nghiên cứu trước đó 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Có nhiều tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa TN ngoài lãi(TNNL) và rủi ro trong HĐ kinh doanh của NH. Các nghiên cứu đều đưa ra quan điểm: Các TCTD nên đẩy mạnh kinh doanh các DVPTD nhều hơn nữa, DVPTD có thể làm giảm rủi ro , nhưng không làm tăng LN. Cụ thể: - Nghiên cứu thứ nhất của Wahyun Yuwana Hidayat, Makoto Kakinaka, Hiroaki iyamoto (2012): Nhóm tác giả đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa rủi ro NH và TNNL của hệ thống NH ở Ấn Độ giai đoạn 2002-2008.
Phân tích đã cho thấy bằng chứng rõ ràng rằng tác động của HĐ DVPTD đến rủi ro NH phụ thuộc rất lớn vào qui mô tài sản của NH. Cụ thể, TN từ DVPTD thấp liên quan đến rủi ro cho các NH có qui mô tài sản nhỏ. Ngược lại, mức độ thu TN từ DVPTD cao liên quan đến rủi ro cho các NH có qui mô tài sản lớn. Phát hiện này cho thấy cần bãi bỏ quy định khuyến khích các NH tham gia nhiều hơn vào các HĐDVPTD có thể ảnh hưởng xấu đến hệ thống NH nói chung mà các NH có qui mô tài sản lớn đang đóng góp vai trò quan trọng ở Ấn Độ.
- Chien – Chiang Lee, Shih- Jui Yang, Chi-Hung Chang (2014): Nghiên cứu từ 967 NHTMCP ở Châu Á, nhóm tác giả đưa ra kết luận: HĐ PTD của các NH Châu Á làm giảm rủi ro nhưng không làm tăng LN. HĐ PTD giảm, LN và rủi ro tăng lên với những NH tập trung nhiều vào tiết kiệm. Mặt khác nhóm tác giả nhận thấy 5 DVPTD làm tăng nguy cơ rủi ro ở các nước có TN cao và giảm rủi ro ở các nước có TN trung bình hoặc thấp. Cuối cùng tác giả đưa ra kết luận TNNL bị tác động bởi lĩnh vực HĐ chuyên sâu của NH và mức TN quốc gia.
- Năm 2018 nhóm tác giả L’souza Boniface Alubisia; Wainaina Githii, PhD; Mirie Mwangi, PhD (2018) đã nghiên cứu tác động của công nghệ đối với TNNL của hệ thống NHTM ở Kenya giai đoạn 2012-2017. Nghiên cứu đánh giá các nhân tố tác động đến TNNL. Mô hình hồi quy bội được phát triển và phân tích hồi quy bội được thực hiện để minh họa mối quan hệ giữa TNNL và TN từ ATM, Thẻ ghi nợ; TN từ NH điện tử; TN Từ Mobile Banking và TN từ Hệ thống chuyển tiền. Kết quả hồi quy đưa ra phương trình TNNL = -0,66 + 1,267 TN từ ATM, Thẻ ghi nợ + 0,272 TN từ NH điện tử+ 0,146 TN từ Mobile Banking + 0,365 TN từ hệ thống chuyển tiền Nghiên cứu đã chỉ ra rằng TN từ ATM, Kênh phân phối là yếu tố tác động nhiều nhất đến TNNL.
Trong điều kiện các biến khác không đổi, TN từ ATM và thẻ tăng 1 đơn vị thì TNNL của NHTM tăng 1,267 đơn vị. TN từ Mobile Banking tác động thấp nhất đến TNNL, trong điều kiện các biến khác không đổi, TN từ Mobile Banking tăng 1 đơn vị sẽ giúp tăng TNNL thêm 0,146 đơn vị. Các công trình nghiên cứu trong nước a. Các công trình nghiên cứu về phát triển DVPTD nói chung Các công trình trong nước chủ yếu nghiên cứu về phát triển DVPTD của NH.
Mục tiêu của các công trình này không trùng với hướng nghiên cứu của khóa luận. Nghiên cứu của các tác giả khác nhau, thời điểm khác nhau nhưng đều có điểm chung là tập trung vào phát triển tổng thể DV hoặc tập trung vào một DV cụ thể. Tác giả bước đầu đưa ra giải pháp để nâng cao chất lượng DV. - Phạm Anh Thủy(2013): Nghiên cứu tổng hợp lý luận cơ bản về DV PTD của các NHTM, nêu lên một số bài học kinh nghiệm trong phát triển DV PTD của các quốc gia khác, qua đó tổng hợp thành tám bài học kinh nghiệm có giái trị tham khảo đối với VN.
Tác giả đánh giá thực trạng phát triển PTD thông qua hai chỉ tiêu định tính và định lương. Kết quả nghiên cứu về chất lượng DV PTD tác động đên sự hài lòng của KH thông qua đánh giá bằng thang đo hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích EFA và kiểm định mô hình nghiên cứu bằng phấn tích hồi quy bội. Trên cơ sở phát 6 triển DV PTD tại VN, tác giả khái quát chiến lược phát triển DV NH của các NHTM đến năm 2015 và tầm nhìn đến 2020. - Phan Thị Linh(2015) đã phân tích những cơ hội và thách thức trong phát triển DVPTD của các NHTM.
Từ đó nghiên cứu một cách cụ thể về thực trạng phát triển DV PTD của các NHTM VN trong giai đoạn 2013 -2015, đánh giá sự phát triển DVPD thông qua các chỉ tiêu cụ thể và các nhân tố tác động, chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân. Tác giả đã sử dụng hàm hồi quy để đánh giá và chứng minh CP đầu tư của DVPTD có mối quan hệ với LN của NH cụ thể Nếu CP đầu tư vào DVPTD là 30% thì LN đạt được sẽ là 34 %. Các công trình về giải pháp để gia tăng nguồn thu từ DVPTD Hiện tại không có nhiều nghiên cứu trong nước về giải pháp nâng cao nguồn thu từ DVPTD. Các nghiên cứu trước đó mới chỉ đưa ra giải pháp để tăng nguồn thu về mặt quy mô mà chưa đi sâu vào các cách để tỷ trọng LN từ DVPTD, phát triển thêm các DVPTD có thu phí.
- Nguyễn Hồ Ngọc (2011): Tác giả đưa ra những nhận xét về những tồn tại và khó khăn của các NHTM, nêu ra thực trạng HĐ cung cấp DV PTD. Bên cạnh đó, luận văn cho thấy vai trò của việc tăng tỷ trọng phí DV của DVPTD trong tổng TN, đồng thời đưa ra các giải pháp từ tình hình thực tế nhằm giúp cho hệ thống NHTM có thể phát huy bền vững dựa trên các SP, DV NH hữu ích, hiện đại, an toàn. Tuy nhiên quan điểm tăng phí DV của tác giả sẽ tác động đến lựa chọn của KH. Phí tăng liệu có đi kèm cùng việc tăng chất lượng dịch vụ? Tăng phí sẽ gây ra phản ứng tiêu cực đối với KH.
- Ngô Mỹ Chương(2014): Bài viết đã làm rõ những vấn đề luận cơ bản về DVPTD, nhân tố ảnh hưởng đến nguồn thu từ PTD. Trên cơ sở phân tích, tác giả đánh giá thực trạng cung cấp DVPTD tại DongA Bank giai đoạn 2011 – 2013 dựa trên các số liệu thực tế. Từ đó tìm ra những mặt đã đạt được, những mặt còn hạn chế, tồn tại, các nguyên nhân chủ quan, khách quan tác động đến nguồn thu… Căn cứ vào chiến lược phát triển của DongA Bank, đồng thời dựa trên cơ sở phân tích khoa học để đưa ra các giải pháp tăng LN từ PTD tại DongA Bank.