Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MUA BÁN HÀNG HÓA VÀ MUA BÁN HÀNG HÓA QUA SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA 1.Khái niệm về hàng hóa, mua bán hàng hóa và hợp đồng mua bán hàng hóa 1. Khái niệm về hàng hóa, mua bán hàng hóa Trong điều kiện nền kinh tế thị trường trên đà phát triển, mua bán là phương thức chủ yếu để dịch chuyển tài sản từ người này sang người khác. Hoạt động mua bán đang diễn ra rất sôi nổi không chỉ ở thị trường trong nước mà còn ở thị trường nước ngoài. Mua bán hàng hóa là hoạt động chính của hoạt động thương mại, là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng.
Nhiều cách định nghĩa khác nhau về hàng hóa đã được ghi nhận. Theo từ điển tiếng Việt: “Hàng hóa là một trong những phạm trù cơ bản của kinh tế chính trị. Theo nghĩa hẹp, hàng hóa là vật chất tồn tại có hình dạng xác định trong không gian và có thể trao đổi, mua bán được. Theo nghĩa rộng, hàng hóa là tất cả những gì có thể trao đổi, mua bán được”.
Theo khoản 1 Điều 4 Luật Giá năm 2012 thì: “Hàng hóa là tài sản có thể trao đổi, mua, bán trên thị trường, có khả năng thỏa mãn nhu cầu của con người, bao gồm các loại động sản và bất động sản”. Từ đó có thể thấy hàng hóa là sản phẩm lao động do con người tạo ra nhằm mục đích trao đổi mua bán để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của xã hội. Nó chính là đối tượng trong các hoạt động thương mại trong xã hội, tuy nhiên hàng hóa thì được quy định trong Luật Thương mại 2005 một cách cụ thể như sau: Căn cứ khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại 2005:“Hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai”. 4 Tuy khái niệm hàng hóa tại Khoản 2 Điều 3 như trên là khá rộng nhưng tại Điều 25 Luật Thương mại năm 2005 đã bổ sung thêm quy định về hàng hóa hạn chế kinh doanh, hàng hóa cấm kinh doanh và hàng hóa kinh doanh có điều kiện; Căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội của từng thời kỳ và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, Chính phủ quy định cụ thể danh mục hàng hoá cấm kinh doanh, hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng hoá kinh doanh có điều kiện và điều kiện để được kinh doanh hàng hóa đó.
Đối với hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng hoá kinh doanh có điều kiện, việc mua bán chỉ được thực hiện khi hàng hoá và các bên mua bán hàng hóa đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.Như vậy, không phải tất cả các hàng hóa nào cũng được phép mua bán, phải đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh thì mới được phép lưu thông, mua bán trên thị trường. Hành vi mua bán hàng hóa được hiểu là những hoạt động trao đổi hay giao lưu hàng hóa, dịch vụ dựa trên cơ sở thuận mua vừa bán. Hoạt động mua bán hàng hóa là một bộ phận chủ yếu của hoạt động thương mại và được định nghĩa tại khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại 2005: “Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận”. Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa Hợp đồng mua bán hàng hóa là một trong những loại hợp đồng đặctrưng và phổ biến nhất trong hoạt động kinh doanh thương mại, là thỏa thuận của hai bên gồm bên mua và bên bán nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán.
Luật Thương mại không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại, nhưng có thể dựa vào khái niệm hợp đồng mua bán tài sản trong luật dân sự để xác định bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa. Theo 5 Điều 428 Bộ luật Dân sự hiện hành: hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán. Theo Điều 430 bộ luật Dân sự sửa đổi năm 2015: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.” Hàng hóa được hiểu là động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai, và các vật gắn liền với đất. Như vậy, hàng hóa thuộc tài sản và có phạm vi hẹp hơn tài sản.
Từ đó cho thấy, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản. Điểm phân biệt giữa hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại và hợp đồng mua bán tài sản khác là: đối tượng hàng hóa, và mục đích sinh lời. Khái niệm và đặc điểm của mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa 1. Khái niệm và bản chất của mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa Để đáp ứng nhu cầu của các nhà sản xuất cũng như các nhà xuất khẩu nông sản trong nước mong muốn có một thị trường để giảm thiểu rủi ro do sự biến động bất thường về giá hàng hóa nông sản trên thị trường quốc tế, đồng thời đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư, chúng ta đã bước đầu đưa vào Luật Thương mại 2005 những quy định liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa. Khoản 1 Điều 63 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Mua bán hàng hóa qua sở Giao dịch hàng hóa là việc các bên thỏa thuận thực hiện mua bán một lượng nhất định của một loại hàng hóa nhất định qua sở giao dịch hàng hóa theo những tiêu chuẩn của sở giao dịch hàng hóa với giá được thỏa thuận tại thời điểm giao kết hợp đồng và thời gian giao hàng được xác định tại một thời điểm trong tương lai. Phạm Duy Liên thì“Thị trường sở giao dịch hàng hóa là thị trường ở đó người ta buôn bán, trao đổi với nhau không phải là hàng hóa, sản phẩm trực tiếp giao ngay mà là thông qua các hợp đồng cam kết mua bán, còn việc giao hàng và nhận tiền sẽ được thực hiện trong tương lai”. Hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa không giống với hoạt động mua bán hàng hóa thông thường, tức là khi người ta giao kết hợp đồng, giao tiền thì giao vật luôn.
Mà ở đây, trong một thời điểm nào đó trong tương lai, hàng hóa mới được chuyển tới tay người mua. Bản chất của mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa chính là mua bán hàng hóa giao sau. Mua bán hàng hóa giao sau là việc giao dịch, ký kết các hợp đồng mà việc giao hàng và nhận tiền diễn ra vào thời gian ấn định trong tương lai. Thị trường hàng hóa giao sau là thị trường diễn ra hoạt động mua bán hàng hóa giao sau.
Là thị trường mua bán hàng hóa, thị trường mua bán hàng hóa giao sau có những đặc tính riêng biệt. Bao gồm: Thứ nhất, về chủ thế: Mục đích của các chủ thể thường không giống nhau. Có những chủ thể tham gia với mục đích hạn chế rủi ro, có chủ thể lại tham gia với mục đích đầu tư kiếm lời… Thứ hai, về đối tượng: thường là một số loại hàng hóa đặc biệt mới được phép giao dịch trên thị trường này. Hàng hóa ở đây không chỉ tồn tại dưới dạng vật chất mà còn là các quyền tài sản; Thứ ba, đặc trưng của thị trường mua bán hàng hóa hình thành trong tương lai đó là phải có hợp đồng.
Các hợp đồng phải là các thỏa thuận mang tính pháp lý, là cơ sở ràng buộc người bán và người mua. Ngoài ra khi giao kết hợp đồng, các bên chủ yếu thỏa thuận về giá cả và kỳ hạn, các điều khoản khác thường được chuẩn hóa; các bên trao đổi với nhau không phải là hàng hóa, sản phẩm trực tiếp giao ngay mà thông qua các hợp đồng cam kết mua bán, còn việc giao hàng và nhận tiền được thực hiện trong tương lai. Đặc điểm của mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa Mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa là một phương thức mua bán hàng hóa đặc biệt. Nó vừa mang các đặc điểm của mua bán hàng hóa thông thường vừa mang những đặc điểm của mua bán hàng hóa trong tương lai.
Thứ nhất, mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa là hoạt động mua bán hàng hóa thông thường. Do vậy nó mang các đặc điểm của một hoạt động thương mại. Hoạt độngthương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, do thương nhân tiến hành. Như vậy, mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, hay nói cách khác là hoạt động kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ thương mại này.
Thứhai, thỏa thuận mua bán một lượng hàng hóa nhất định của các bên phải được thực hiện thông qua chủ thể thứ ba là sở giao dịch hàng hóa và phải tuân thủ các điều kiện cụ thể cho sở giao dịch đặt ra. Đây là điểm khác biệt cơ bản của hoạt động mua bán hàng hóa thông qua sở giao dịch hàng hóa với hoạt động mua bán hàng hóa thông thường và hoạt động mua bán hàng hóa giao sau trên thị trường ngoài sở giao dịch. Trong hoạt động mua bán hàng hóa thông thường, các bên trực tiếp thỏa thuận với nhau về giá cả, số lượng, phẩm cấp hàng hóa, thời hạn giao nhận mà không cần phải thông qua chủ thể trung gian nào. Hay tại thị trường hàng hóa giao sau ngoài sở, các bên có thể chủ động thỏa thuận với nhau việc mua, bán một lượng hàng hóa nhất định với các điều khoản về chất lượng, giá cả và thời điểm giao hàng trong tương lai nhất định mà không thông qua tổ chức nào.
Nhưng đối với hoạt động mua bán hàng hóa thông qua sở giao dịch hàng hóa, thỏa thuận mua bán hàng hóa của các bên nhất thiết phải thực hiện thông qua sở giao dịch hàng hóa. Sở giao dịch hàng hóa đóng vai trò trung gian, kết nối quan hệ mua bán hàng hóa của các bên mua bán hàng hóa.