Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đổi mới giáo dục và đào tạo được Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định là nhiệm vụ trọng tâm nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Định hướng này được khẳng định trong Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 và được thể chế hóa tại Khoản 3, Điều 5 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục số 44/2009/QH12: phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui và hứng thú học tập. Trong quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá (KT-ĐG) là khâu cuối cùng của một quy trình, đồng thời khởi đầu cho một chu trình dạy học tiếp theo với chất lượng cao hơn. Đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ công tác KT-ĐG.

Tuy nhiên, thực tiễn dạy học môn Lịch sử tại các trường Trung học phổ thông (THPT) bộc lộ nhiều bất cập. Môn Lịch sử thường bị xem là môn phụ, học sinh có tâm lý ngại học, học đối phó, thiếu hứng thú. Phía giáo viên còn lúng túng trong đổi mới phương pháp, việc KT-ĐG chủ yếu dựa vào hình thức tự luận truyền thống với các câu hỏi nặng về ghi nhớ máy móc sự kiện, niên đại trong sách giáo khoa (SGK), chưa chú trọng kiểm tra khả năng thông hiểu, lập luận và tư duy sáng tạo của học sinh. Nhằm giải quyết các mâu thuẫn này, đề tài "Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Lịch sử ở trường THPT (kết hợp hình thức tự luận và trắc nghiệm khách quan) (Vận dụng chương trình SGK Lịch sử lớp 11 - Ban Cơ bản)" được tác giả Đoàn Thị Dung thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Ngô Minh Oanh tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (niên khóa 2007-2011).

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng KT-ĐG môn Lịch sử ở trường phổ thông; từ đó đề xuất và thực nghiệm giải pháp kết hợp hai hình thức tự luận (TL) và trắc nghiệm khách quan (TNKQ) nhằm nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về KT-ĐG kết quả học tập trong dạy học Lịch sử ở trường THPT.
  2. Điều tra, khảo sát, phân tích thực trạng dạy học và công tác KT-ĐG môn Lịch sử tại một số trường THPT nội thành TP. Hồ Chí Minh, chỉ rõ ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
  3. Nghiên cứu các hình thức trắc nghiệm và tự luận, đề xuất giải pháp kết hợp hai hình thức này; xây dựng hệ thống đề kiểm tra minh họa cho chương trình Lịch sử lớp 11 (Ban Cơ bản).
  4. Tổ chức thực nghiệm sư phạm ở khối lớp 11 để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của giải pháp đề xuất, xử lý số liệu và rút ra kết luận khoa học.

Đối tượng nghiên cứu là quá trình KT-ĐG kết quả học tập môn Lịch sử của học sinh THPT. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào chương trình SGK Lịch sử lớp 11 Ban Cơ bản (trọng tâm Phần ba: Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1918, Chương I: Việt Nam từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIX); địa bàn khảo sát và thực nghiệm tại một số trường THPT nội thành TP. Hồ Chí Minh (THPT Nguyễn Trãi, THPT Trần Khai Nguyên, THPT Lương Thế Vinh, THPT Nguyễn Công Trứ, THPT Lương Văn Can) trong giai đoạn 2007-2011.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên hệ thống khái niệm chuẩn mực về đo lường và đánh giá giáo dục:

  • Khái niệm kiểm tra: Được xác định là quá trình thu thập thông tin, dữ kiện, xem xét soát xét lại công việc thực tế làm cơ sở cho đánh giá (dẫn chiếu theo quan niệm của Nguyễn Như Ý, Bửu Kế, Trần Bá Hoành). Trong điều khiển học, kiểm tra giữ vai trò là nguyên tắc của mối liên hệ ngược trong quản lý hệ thống dạy học.
  • Khái niệm đánh giá: Quá trình hình thành nhận định, phán đoán về kết quả công việc dựa trên phân tích thông tin thu được đối chiếu với tiêu chuẩn, mục tiêu đề ra nhằm đưa ra quyết định sư phạm phù hợp (theo Dương Thiệu Tống, Nguyễn An, Văn Tân).
  • Các yêu cầu sư phạm đối với KT-ĐG: Tính khách quan, tính toàn diện, tính hệ thống, tính riêng biệt và phân biệt, tính giáo dục.
  • Thang đo 6 mức độ nhận thức: Vận dụng hệ thống phân loại nhận thức gồm 6 cấp độ từ thấp đến cao: Biết (nhớ lại sự kiện), Hiểu, Ứng dụng, Phân tích, Tổng hợp, Đánh giá.
  • Phương diện nội dung KT-ĐG môn Lịch sử: Gồm kiểm tra kiến thức cơ bản (sự kiện, niên đại, quy luật); phương pháp nhận thức lịch sử (từ tạo biểu tượng đến hình thành khái niệm, nắm vững phương pháp luận duy vật lịch sử); năng lực thực hành bộ môn (khai thác đồ dùng trực quan, tài liệu tham khảo, lịch sử địa phương); năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống.

Tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp nghiên cứu giáo dục: Tìm hiểu tâm lý lứa tuổi học sinh THPT, phân tích mối tương tác sư phạm giữa giáo viên, học sinh và phương tiện dạy học.
  • Phương pháp nghiên cứu lịch sử và logic: Sưu tầm, xử lý tư liệu có hệ thống, đối chiếu, so sánh các nguồn tài liệu chuyên khảo.
  • Phương pháp liên ngành và định lượng: Sử dụng công cụ thống kê toán học để xử lý phiếu khảo sát thực tế và phân tích phương sai, độ chênh lệch điểm số giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết kế phiếu khảo sát bằng bảng hỏi dành cho giáo viên và 269 học sinh khối 11 tại các trường THPT nội thành TP. Hồ Chí Minh.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế bài kiểm tra 1 tiết kết hợp TNKQ và Tự luận (tỉ lệ 3/7) tại Trường THPT Nguyễn Công Trứ để đối chứng với lớp kiểm tra theo phương pháp truyền thống.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật (Luật Giáo dục sửa đổi 2009), số liệu thống kê thi tuyển sinh ĐH-CĐ năm 2007 từ Cục Công nghệ Thông tin - Bộ GD&ĐT, các bài nghiên cứu trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Kỷ yếu hội thảo khoa học Viện Nghiên cứu Giáo dục (ĐHSP TP.HCM năm 2006) và các giáo trình chuyên ngành của Dương Thiệu Tống, Phan Ngọc Liên, Trần Bá Hoành, Trần Thị Tuyết Oanh, Nguyễn Thị Côi.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Lí luận chung về kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông

Chương I tập trung làm sáng tỏ bản chất của kiểm tra và đánh giá trong quá trình dạy học Lịch sử. Tác giả khẳng định KT-ĐG không đơn thuần là việc giáo viên cho điểm để phân loại học sinh mà là một thể thống nhất hữu cơ, cung cấp thông tin phản hồi hai chiều để giáo viên điều chỉnh phương pháp giảng dạy và giúp học sinh tự kiểm soát năng lực nhận thức. Quy trình KT-ĐG được phân định thành hai hình thức cơ bản: KT-ĐG thường xuyên (thực hiện qua giờ giảng, vấn đáp, thảo luận nhóm) và KT-ĐG định kỳ (kiểm tra 1 tiết, kiểm tra học kỳ).

Tác giả phân tích chi tiết 4 chức năng, nhiệm vụ của KT-ĐG: kiểm tra mức độ lĩnh hội tri thức; hình thành kỹ năng và thói quen học tập khoa học; giáo dục tư tưởng, đạo đức, niềm tin; hỗ trợ giáo viên tự đánh giá năng lực sư phạm. Về nội dung kiểm tra, tác giả nhấn mạnh yêu cầu phải bao quát mục tiêu giáo dưỡng, giáo dục và phát triển, tập trung vào các sự kiện điển hình, bản chất thay vì đòi hỏi học sinh ghi nhớ vụn vặt.

Chương II: Thực trạng và yêu cầu cấp bách của việc đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Lịch sử ở trường THPT hiện nay

Chương II phản ánh bức tranh thực tế về tình hình dạy học và KT-ĐG môn Lịch sử. Về thực trạng chung, môn Lịch sử chưa được đặt đúng vị trí, tình trạng "thầy đọc, trò chép" còn phổ biến; học sinh có xu hướng dồn trọng tâm vào các môn tự nhiên. Dẫn chứng từ kỳ thi tuyển sinh ĐH-CĐ năm 2007 cho thấy trong 150.234 thí sinh thi khối C, có tới 97,74% bài thi môn Lịch sử đạt điểm dưới trung bình (từ 0 đến 4,5 điểm), điểm từ 5 trở lên chỉ chiếm 4,26%, phản ánh sự giảm sút chất lượng nghiêm trọng.

Khảo sát thực tế bằng phiếu hỏi đối với 269 học sinh tại 3 trường THPT nội thành TP. Hồ Chí Minh (THPT Nguyễn Trãi, THPT Trần Khai Nguyên, THPT Lương Thế Vinh) mang lại các số liệu cụ thể:

Nội dung khảo sát Tiêu chí / Ý kiến phản hồi Số lượng phiếu Tỉ lệ (%)
Mức độ yêu thích môn Lịch sử Bình thường 172 64%
Yêu thích 58 21%
Không hứng thú 39 15%
Nhận thức về sự cần thiết của môn học Rất cần thiết 179 66%
Bình thường 74 27%
Không cần thiết 17 7%
Hình thức KT-ĐG giáo viên đang áp dụng Tự luận viết 212 79%
Hình thức khác (vấn đáp, TNKQ, kết hợp) 57 21%
Đánh giá về tính thực chất của KT-ĐG hiện hành Cơ bản đánh giá đúng thực chất 122 45%
Không đánh giá đúng thực chất 102 38%
Không chắc chắn / Ý kiến khác 45 17%

Các nguyên nhân khiến học sinh không thích học Lịch sử được tổng hợp qua khảo sát: phải học thuộc nhiều sự kiện, ngày tháng dàn trải khó nhớ (186 ý kiến); phương pháp dạy đọc chép gây buồn ngủ (54 ý kiến); môn học khô khan, cứng nhắc (45 ý kiến); giáo viên ít liên hệ thực tế, ít kể chuyện (30 ý kiến); tâm lý coi là môn phụ không thi đại học (28 ý kiến); thiếu phương tiện trình chiếu, phim tư liệu (25 ý kiến); khối lượng kiến thức SGK quá tải (16 ý kiến).

Tác giả chỉ rõ các hình thức KT-ĐG hiện hành gồm: Vấn đáp (nhanh nhưng dễ mang tính hình thức, thời gian 3-5 phút); Tự luận (đo được mức độ hiểu sâu nhưng đề ít câu, học sinh dễ học tủ, chấm bài tốn công và dễ chủ quan); Trắc nghiệm khách quan (chấm nhanh, bao quát nhưng chưa đo được kỹ năng hành văn, lập luận). Thực trạng cho thấy 79% các trường vẫn dùng tự luận đơn thuần, dẫn đến việc học vẹt, học tủ, thiếu tính khách quan và chưa phát huy tư duy học sinh.

Chương III: Nâng cao hiệu quả kết quả kiểm tra, đánh giá bằng việc kết hợp hình thức tự luận với trắc nghiệm khách quan

Chương III trình bày giải pháp phối hợp hai hình thức KT-ĐG. Tác giả phân tích cấu trúc, ưu điểm và hạn chế của 5 dạng câu hỏi TNKQ:

  1. Câu Đúng - Sai: Dễ soạn nhưng xác suất đoán mò cao (50%), thường chỉ đo mức độ nhận biết.
  2. Câu Nhiều lựa chọn: Gồm phần dẫn (câu hỏi/câu lửng) và các phương án lựa chọn (phương án đúng và các mồi nhử gây nhiễu). Xác suất may rủi giảm (20-25%), độ tin cậy cao.
  3. Câu Trả lời ngắn: Yêu cầu điền từ/cụm từ/con số, triệt tiêu việc đoán mò nhưng khó chấm tự động nếu có nhiều cách diễn đạt tương đương.
  4. Câu Điền khuyết: Yêu cầu điền vào chỗ trống trong đoạn văn bản, dễ kiểm tra khả năng ghi nhớ thuật ngữ, sự kiện.
  5. Câu Ghép đôi: Gồm hai cột thông tin cần ghép nối logic, hạn chế đoán mò nhưng tốn thời gian biên soạn.

So sánh hai phương pháp cho thấy: Tự luận có ưu thế vượt trội trong đo lường năng lực tư duy bậc cao (tổng hợp, phân tích, lập luận, cảm thụ lịch sử), trong khi TNKQ có thế mạnh về độ bao phủ chương trình, tránh học tủ và bảo đảm tính khách quan, công bằng khi chấm.

Tác giả đề xuất mô hình đề kiểm tra kết hợp giữa Tự luận và TNKQ theo cấu trúc tỉ lệ điểm số 3/7 (30% điểm trắc nghiệm khách quan - 70% điểm tự luận) hoặc 4/6 cho bài kiểm tra 1 tiết và 15 phút. Trong chương này, tác giả trực tiếp biên soạn bộ đề kiểm tra minh họa cho các bài học thuộc Phần ba: Lịch sử Việt Nam (1858-1918), Chương I: Việt Nam từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIX (SGK Lịch sử 11 Ban Cơ bản), kèm theo ma trận đề, đáp án và biểu điểm chi tiết.

Chương IV: Thực nghiệm sư phạm

Chương IV ghi nhận quá trình triển khai thực nghiệm sư phạm tại Trường THPT Nguyễn Công Trứ (Quận Gò Vấp, TP.HCM) với sự phối hợp của tổ bộ môn Lịch sử do cô Đỗ Thị Thu Hương làm tổ trưởng.

Nội dung thực nghiệm được tiến hành thông qua bài kiểm tra 1 tiết phần Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến cuối thế kỷ XIX trên các lớp thực nghiệm (sử dụng đề kiểm tra kết hợp TNKQ và Tự luận theo tỉ lệ 3/7) và các lớp đối chứng (sử dụng đề kiểm tra tự luận thuần túy theo lối truyền thống). Kết quả thực nghiệm khẳng định bài kiểm tra kết hợp giúp học sinh nắm vững kiến thức toàn diện hơn, giảm thiểu hiện tượng bỏ giấy trắng, kích thích tư duy so sánh, đồng thời phân hóa rõ rệt trình độ học sinh giữa các mức Giỏi, Khá, Trung bình và Yếu.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể dựa trên số liệu và phân tích thực chứng:

  • Khái quát và chuẩn hóa hệ thống lý luận về KT-ĐG trong môn Lịch sử, xác lập mối quan hệ giữa 6 cấp độ nhận thức của thang đo Bloom với các dạng công cụ đo lường sư phạm.
  • Cung cấp dữ liệu thực trạng có giá trị thông qua khảo sát 269 học sinh tại 3 trường THPT ở TP.HCM và phân tích nguyên nhân học sinh sa sút hứng thú đối với bộ môn (186/269 học sinh chỉ ra áp lực ghi nhớ máy móc sự kiện, ngày tháng dàn trải).
  • Xây dựng quy trình biên soạn đề kiểm tra kết hợp hai hình thức TNKQ và Tự luận với tỉ lệ phân bổ 3/7 (3 điểm trắc nghiệm - 7 điểm tự luận) hoặc 4/6, áp dụng trực tiếp vào chương trình SGK Lịch sử lớp 11 Ban Cơ bản.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Nếu các công trình của GS. Dương Thiệu Tống (1995) hay TS. Trần Thị Tuyết Oanh chỉ phân tích riêng lẻ ưu - nhược điểm của từng phương pháp đo lường, thì khóa luận của tác giả Đoàn Thị Dung đã tiến hành cụ thể hóa việc tích hợp hai hình thức vào một đề kiểm tra hoàn chỉnh, có ma trận kiến thức và được kiểm chứng thực tế qua thực nghiệm sư phạm tại trường phổ thông.

Các giải pháp và kiến nghị được tác giả đề xuất:

  1. Đối với giáo viên: Cần thay đổi nhận thức về KT-ĐG; nắm vững kỹ thuật biên soạn các loại câu hỏi trắc nghiệm (đặc biệt là kỹ thuật viết phương án gây nhiễu cho câu nhiều lựa chọn); xây dựng ma trận đề kiểm tra khoa học trước khi ra đề; kết hợp phương tiện trực quan, tư liệu lịch sử trong giảng dạy.
  2. Đối với nhà trường và ngành giáo dục: Cần tinh giản chương trình SGK Lịch sử nhằm tránh quá tải; tổ chức tập huấn kỹ năng ra đề kiểm tra kết hợp; đầu tư trang thiết bị trình chiếu tư liệu; tăng cường cho học sinh tham quan bảo tàng, di tích lịch sử để gắn lý thuyết với thực tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài:

  • Phạm vi khảo sát thực tế và thực nghiệm sư phạm mới chỉ triển khai tại một số trường THPT thuộc khu vực nội thành TP. Hồ Chí Minh (THPT Nguyễn Trãi, THPT Trần Khai Nguyên, THPT Lương Thế Vinh, THPT Nguyễn Công Trứ, THPT Lương Văn Can), chưa có điều kiện mở rộng khảo sát tại các trường THPT ngoại thành, vùng nông thôn hoặc các tỉnh lân cận.
  • Phạm vi biên soạn đề kiểm tra thử nghiệm và thực nghiệm sư phạm mới tập trung vào đối tượng học sinh lớp 11 Ban Cơ bản, trong giới hạn nội dung Phần ba: Lịch sử Việt Nam (1858-1918), Chương I: Việt Nam từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIX.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm đối với toàn bộ chương trình Lịch sử THPT (khối 10, khối 11, khối 12) ở cả Ban Cơ bản và Ban Nâng cao.
  • Nghiên cứu xây dựng ngân hàng câu hỏi chuẩn hóa kết hợp giữa TNKQ và Tự luận trên quy mô lớn, ứng dụng công nghệ thông tin trong khâu trộn đề và chấm điểm tự động đối với phần trắc nghiệm.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị ứng dụng thiết thực đối với:

  • Sinh viên ngành Sư phạm Lịch sử: Tài liệu tham khảo phương pháp luận về đo lường và đánh giá kết quả học tập, phục vụ học phần Phương pháp dạy học Lịch sử và rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm trước khi thực tập giảng dạy.
  • Giáo viên Lịch sử cấp THPT: Nguồn tham khảo trực tiếp về cấu trúc đề, ma trận câu hỏi và kỹ thuật kết hợp TNKQ với Tự luận (tỉ lệ 3/7) cho các bài kiểm tra 15 phút, 1 tiết và kiểm tra học kỳ lớp 11.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn bộ môn Lịch sử tại các trường phổ thông: Cung cấp cơ sở thực tiễn và số liệu khảo sát phục vụ công tác đổi mới phương pháp giảng dạy và KT-ĐG theo định hướng phát triển năng lực học sinh.

Phần có giá trị tham khảo cao nhất là Chương III với hệ thống phân loại 5 dạng câu hỏi trắc nghiệm, kỹ thuật viết mồi nhử và bộ đề kiểm tra mẫu minh họa cho phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858-1918.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao tác giả đề xuất kết hợp hình thức Tự luận và Trắc nghiệm khách quan thay vì sử dụng hoàn toàn một trong hai hình thức?
Tác giả chỉ rõ mỗi hình thức đều có ưu điểm và hạn chế riêng: Tự luận đo lường tốt năng lực tư duy bậc cao (tổng hợp, lập luận, hành văn, xúc cảm lịch sử) nhưng đề ít câu, học sinh dễ học tủ và việc chấm thi tốn thời gian, dễ mang tính chủ quan. Ngược lại, TNKQ phủ kín chương trình, tránh học tủ, chấm nhanh và khách quan nhưng khó đo lường khả năng lập luận, diễn đạt và sáng tạo. Việc kết hợp cả hai hình thức trong cùng một đề kiểm tra sẽ bù đắp nhược điểm của nhau, vừa đánh giá được diện rộng kiến thức vừa đo được chiều sâu tư duy của học sinh.

2. Tỉ lệ điểm số giữa phần Trắc nghiệm khách quan và Tự luận được tác giả đề xuất áp dụng cho bài kiểm tra 1 tiết là bao nhiêu?
Tác giả đề xuất cấu trúc bài kiểm tra 1 tiết kết hợp gồm 30% điểm dành cho phần Trắc nghiệm khách quan (tương ứng 3 điểm) và 70% điểm dành cho phần Tự luận (tương ứng 7 điểm), hoặc linh hoạt điều chỉnh theo tỉ lệ 4/6 tùy theo mức độ và mục tiêu của bài kiểm tra.

3. Khảo sát thực tế trong khóa luận cho thấy nguyên nhân hàng đầu khiến học sinh THPT không thích học môn Lịch sử là gì?
Kết quả khảo sát 269 học sinh khối 11 tại 3 trường THPT ở TP.HCM cho thấy nguyên nhân được nêu nhiều nhất (186 ý kiến) là do môn Lịch sử phải học quá nhiều sự kiện, ngày tháng dàn trải trong SGK dẫn đến tình trạng quá tải, khó nhớ và khó thuộc.

4. Dữ liệu điểm thi môn Lịch sử trong kỳ thi tuyển sinh ĐH-CĐ năm 2007 được tác giả trích dẫn phản ánh con số nào?
Theo số liệu của Cục Công nghệ Thông tin - Bộ GD&ĐT được trích dẫn trong văn bản, trong kỳ thi tuyển sinh ĐH-CĐ năm 2007, số thí sinh đạt điểm môn Lịch sử khối C từ 0 đến 4,5 điểm là 150.234 thí sinh (chiếm tỉ lệ 97,74% tổng số thí sinh dự thi); số thí sinh đạt từ điểm 5 trở lên chỉ có 6.680 thí sinh (chiếm 4,26%), trong đó điểm 8,5 có 17 thí sinh và điểm 9 có 17 thí sinh.

5. Khóa luận triển khai thực nghiệm sư phạm tại trường THPT nào và trên nội dung bài học nào?
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại Trường THPT Nguyễn Công Trứ (Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh) trên đối tượng học sinh khối 11, thông qua bài kiểm tra 1 tiết thuộc nội dung Phần ba: Lịch sử Việt Nam (1858-1918), Chương I: Việt Nam từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIX (SGK Lịch sử 11 Ban Cơ bản).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đoàn Thị Dung đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và cung cấp bức tranh thực trạng chân thực về công tác kiểm tra, đánh giá môn Lịch sử tại các trường THPT nội thành TP. Hồ Chí Minh. Đề tài đã luận giải và khẳng định tính tất yếu của việc kết hợp hình thức tự luận với trắc nghiệm khách quan nhằm khắc phục triệt để tình trạng học vẹt, học tủ, nâng cao tính khách quan và phát huy năng lực tư duy lịch sử của học sinh. Kết quả thực nghiệm sư phạm trên chương trình Lịch sử lớp 11 Ban Cơ bản chứng minh tính khả thi, hiệu quả của giải pháp đề xuất, đóng góp tư liệu chuyên môn hữu ích cho việc đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử trong trường phổ thông.