MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nghị quyết 29 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018) về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ yêu cầu phát triển năng lực, phẩm chất của từng cá nhân “đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu cầu học tập suốt đời của mọi người”. Chiến lược giáo dục Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030 chỉ rõ “Phát triển toàn diện con người Việt Nam, phát huy tối đa tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, nền tảng cho mục tiêu dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đất nước phồn vinh và hạnh phúc”. Triết lý giáo dục hiện nay là dạy học phát triển phẩm chất, năng lực học sinh, lấy người học làm trung tâm.
Tuy nhiên mỗi học sinh lại có đặc điểm tâm sinh lý, khả năng, sở thích, năng lực, nhu cầu, hứng thú khác nhau với những động lực, điều kiện, hoàn cảnh, môi trường học tập khác nhau. Do đó để phát huy tiềm năng tối đa của học sinh nhằm đạt hiệu quả học tập cao, giáo viên cần thấu hiểu nhu cầu chính đáng và thế mạnh học tập của mỗi học sinh. Đặc biệt người GV cần xác định được các nhu cầu, PCHT của HS phù hợp với đặc trưng dạy học của mỗi môn học, trong đó có môn LS. Phong cách học tập có nội hàm cơ bản là “những điểm riêng chiếm ưu thế và tương đối bền vững của cá nhân quy định cách tiếp nhận, xử lý, lưu giữ và phản hồi thông tin trong môi trường học tập”.
Việc xác định được cách thức học tập của HS sẽ đặt cơ sở hình thành và phát triển những PCHT phù hợpvới khả năng của mỗi HS và đặc trưng của môn học, điều kiện học tập, có ý nghĩa quan trọng giúp học sinh hứng thú, năng cao hiệu quả học tập. Theo nghiên cứu của Coffield, hiện nay có tới 71 mô hình PCHT khác nhau được xây dựng và công bố, mỗi mô hình PCHT lại dựa trên những tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên mô hình PCHT VARK của Neil Feming là một trong những mô hình PCHT phổ biến nhất. VARK là viết tắt của Visual, Aural, Read 1 và Kinaesthetic- đề cập tới các PCHT khác nhau dựa thị giác, thính giác, đọc/viết và vận động.
Việc xác định được PCHT của mỗi học sinh, sẽ giúp GV lựa chọn được phương pháp, quy trình dạy học - đánh giá phù hợp và hiệu quả nhất. Không những thế qua việc xác định phong cách học tập, xây dựng cách học của mình, học sinh có thể học tốt, hiệu quả không chỉ một môn học mà học tốt, hiệu quả các môn học trên ghế nhà trường phổ thông cũng như tiếp tục học cao hơn, học tập suốt đời. Đặc biệt trong dạy học Lịch sử - với nội dung dài và khó như hiện nay thì việc xác định PCHT của học sinh càng trở nên cần thiết. Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, đồng thời với sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ và sự bùng nổ thông tin, khối lượng tri thức ngày càng tăng lên, thời lượng học tập thì lại có hạn.
Tuy thực tiễn DH ở trường PT nói chung, DH LS nói riêng ở Việt Nam mặc dù có nhiều đổi mới nhưng do điều kiện, hoàn cảnh cụ thể nhưng vẫn đa phần còn nhiều hạn chế, chủ yếu truyền thụ một chiều với cách dạy truyền thống thầy đọc, giảng - trò chép mà ít quan tâm đếnđặc điểm riêng biệt của HS với những PCHT, nhu cầu, hứng thú khác nhau. Do đó hiệu quả dạy học chưa cao, HS chưa thực sự hứng thú với môn học, đặc biệt là môn học Lịch sử. Chương trình Lịch sử THPT nói chung và chương trình Lịch sử lớp 11 nói riêng mặc dù đã được đổi mới về cách trình bày nhưng về cơ bản vẫn dài và khó, đặc biệt là nội dung về các cuộc CTTG trong thế kỷ XX - một nội dung quan trọng trong chương trình GDPT hiện hành cũng như chương trình GDPT mới 2018. Đây lại là những sự kiện quan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người đồng thời cũng là chủ đề lớn trong Chương trình GDPT mới 2018.
Nguồn tư liệu về các cuộc Đại thế chiến này rất phong phú(thông qua nguồn tư liệu đọc, nghe, nhìn, trải nghiệm thực địa…) tuy nhiên thông tin trong SGK lại hạn chế, thuần túy, nặng về cung cấp kiến thức.Do vậy cần tìm ra cách học, cách dạy mới, hiệu quả về các cuộc CTTG trong thế kỷ XX ((CTTG lần 2 1(1914 - 1918) và CTTG lần 2(1939 - 1945)) khiến chúng dễ học hơn, dễ hiểu hơn. GV THPT trong bối cảnh ngày nay luôn phải tự học, tìm tòi và đưa ra được giải pháp mới nhằm nâng cao hiệu quả dạy học của bản thân, đồng thời nâng cao sự hứng thú, tích cực, chủ động cho học sinh nhằm đáp ứng yêu cầu, mục tiêu dạy học cũng như bồi dưỡng phẩm chất, năng lực học, tự học, học tập suốt đời cho học sinh. Xuất phát từ các lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Vận dụng mô hình VARK trong dạy học lịch sử các cuộc Chiến tranh thế giới trong thế kỷ XX ở trường Trung học phổ thông huyện Hoài Đức” làm đề tài nghiên cứu của mình nhằm góp thêm một cách dạy học mới, hiệu quả đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo, phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Để thu thập nguồn tài liệu nghiên cứu, chúng tôi xác định các từ khóa tìm kiếm liên quan đến đề tài, gồm: Các từ khóa tiếng Anh: Learning Styles, VARK, Neil Fleming,.
Các từ khóa tiếng Việt: Phong cách học tập, nhu cầu học tập, dạy cách học, học cách học, năng lực học sinh. Trên cơ sở đó, việc thu thập tài liệu liên quan được tiến hành trên các địa chỉ chủ yếu như: https://vark-learn.com * Khái quát tình hình nghiên cứu về PCHT trên thế giới PCHT hiện là một lý thuyết học tập hiện đại đang được quan tâm, đánh giá cao và vận dụng hiệu quả. Khái niệm đầu tiên có liên quan đến PCHT là “cognitive styles” (kiểu nhận thức) được Allport đưa ra từ những năm 30 của thế kỉ XX. Thuật ngữ Phong cách học tập (Learning Styles) chỉ mới xuất hiện vào những năm 50 của thế kỷ XX khi Thelen nêu ra một trong những điều kiện để tổ chức họat động Nhóm trong quá trình dạy học là cần phải dựa vào Phong cách học tập (PCHT) của HS.
3 Những năm 60s của thế kỷ XX, các nghiên cứu về PCHT mới bắt đầu chính thức được tiến hành. Từ đó đến nay, trên thế giới có nhiều người vẫn tiếp tục nghiên cứu về PCHT của người học. Các nghiên cứu về PCHT rất đa dạng, chủ yếu theo mảng tâm lý học, một số nghiên cứu về xã hội học, kinh tế, quản lý và giáo dục học. Các tác giả nghiên cứu về PCHT trong các lĩnh vực trên hướng tới việc làm rõ các căn cứ và lý luận của lý thuyết này trong lĩnh vực của mình.
Qua các nghiên cứu đó, họ đều khẳng định mỗi người có PCHT khác nhau và là yếu tố quan trọng giúp việc học của họ hiệu quả hơn. Các nhà nghiên cứu đưa ra các mô hình và công cụ với nhiều mục đích khác nhau. Một số nhằm mục đích đóng góp cho quan điểm lý thuyết về PCHT và không thiết kế công cụ để sử dụng thực tế. Ngược lại, một số tác giả khác lại phát triển công cụ để sử dụng rộng rãi cho người học trong nhiều hoàn cảnh khác nhau.
Các lý thuyết về PCHT (learning styles theories) thường theo 3 xu hướng nghiên cứu: mang tính lý thuyết (theoretical), mang tính sư phạm (pedagogical) và mang tính thương mại (commercial) (Coffield,2004). Nghiên cứu mang tính lý thuyết về PCHT Khái niệm đầu tiên liên quan đến PCHT được đưa ra lần đầu tiên ở Anh, Mỹ, Tây Âu vào những năm 30 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, thực tế là vào đầu thế kỉ XX, những nghiên cứu ban đầu liên quan đến PCHT đã được đề cập. Năm 1904, Alfred Binet, một nhà tâm lý học Pháp, đã phát triển các bài kiểm tra trí thông minh đầu tiên liên quan đến những khác biệt cá nhân.
Năm 1907, tiến sĩ Maria Montessori - người phát minh ra phương pháp Montessori của giáo dục tiếp tục nghiên cứu về PCHT lấy trẻ làm trung tâm của việc dạy học, các chương trình giảng dạy, lộ trình học được thiết kế dựa trên khả năng cụ thể và quá trình phát triển của mỗi trẻ, tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp trẻ phát triển toàn diện. 4 Người đầu tiên nêu ra lý thuyết học tập theo phong cách học tập của người học là Carl Jung năm 1927. Ông nhận thấy mỗi người có cách cảm nhận (cảm giác hay trực giác), quyết định (tư duy, cảm xúc hay trí tưởng tượng), cách thức hoạt động hoặc tương tác (hướng ngoại hay hướng nội) khác nhau. Điểm chung của các nghiên cứu trên là: Thứ nhất là tập trung vào quá trình: các cá nhân tiếp thu, xử lý thông tin, đánh giá kết quả như thế nào.
Thứ hai là nhấn mạnh vào cá tính riêng người học: Các nhà nghiên cứu về lý thuyết PCHT cho rằng tư tưởng, cảm giác, tình cảm của cá nhân có liên quan đến quá trình học tập của người học. Những năm tiếp theo, các nghiên cứu về PCHT cũng ít xuất hiện. Cho đến tận năm 1956, khi Benjamin Bloom phát triển một hệ thống gọi là bảng phân loại tư duy của Bloom thì việc xác định PCHT mới đạt được bước tiến mới. Năm 1976, Dun and Dun đã thiết kế được công cụ để đánh giá PCHT của HS.
Từ những năm 80s cho đến ngày nay, dựa trên cơ sở những khám phá trước đó nhiều mô hình khác nhau về PCHT đã được công bố và phát triển. Các nghiên cứu về PCHT tiếp tục diễn ra, phong phú và đa dạng, tiếp cận theo nhiều khía cạnh khác nhau, chủ yếu quan tâm đến vấn đề nội hàm khái niệm và thực nghiệm của lý thuyết học tập này. Lefer đã xuất bản tài liệu “Phong cách học tập” để giúp cho độc giả hiểu rõ về PCHT. Trong đó, ông đã đưa ra bốn PCHT (học thiên về hình ảnh, học thiên về phân tích, học theo cảm giác thông thường, cách học năng động) và các biện pháp dạy học phù hợp cho từng PCHT kể trên [35].
Tính đến năm 2006, theo thống kê của Ken Dunn and Rita Dunn có khoảng 640 đầu sách về PCHT được xuất bản tại Mỹ, Canada, 4.500 bài báo 5 về PCHT đăng tải trên các ấn phẩm khoa học và hơn 26.000 website đang hoạt động nhằm đo lường và phân loại PCHT [33].