MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Bước sang thập niên thứ ba của thế kỉ XXI, khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra với nhịp độ nhanh hơn và đạt nhiều thành tựu vượt bậc theo hướng chuyển đổi số, thế giới đang thay đổi nhanh chóng từng ngày. Việt Nam cũng đang chuyển mình mạnh mẽ trên hành trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hòa nhịp với sự phát triển chung của nhân loại. Bối cảnh mới đòi hỏi cần nỗ lực hơn nữa trong đổi mới giáo dục và đào tạo để đáp ứng yêu cầu của thời đại, bởi giáo dục và đào tạo đóng một vai trò vô cùng quan trọng, một chiếc “chìa khóa” để mở ra cánh cửa hội nhập quốc tế.
Tìm kiếm, phát hiện nhân tài và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao có thể đáp ứng được nhu cầu của xã hội hiện đại là nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục. Nghị quyết 29-NQ/TW năm 2013 của Đảng Cộng sản Việt Nam về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cũng đã nêu rõ nhiệm vụ, giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là “Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người” [7]. Thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW, ngành giáo dục thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới (ban hành năm 2018). Từ năm học 2019-2020, Chương trình giáo dục phổ thông mới bắt đầu triển khai với lớp 1 trên toàn quốc.
Sang năm học 2022-2023, Chương trình giáo dục phổ thông mới được triển khai đại trà ở cấp THPT. Trong đó, môn Lịch sử được triển khai dạy học theo chủ đề (nội dung bắt buộc), chuyên đề học tập (nội dung tự chọn) nhằm mục tiêu hình thành, phát triển các nhóm năng lực chung và năng lực đặc thù môn Lịch sử cho HS. Để đạt được các mục tiêu đó, việc đổi mới PPDH trong DHLS theo hướng sử dụng HLĐT thông qua sự hỗ trợ đắc lực của “công cụ tin học và các hệ thống 1 tự động hóa của kĩ thuật số” [3; tr. 32] trở thành hướng ưu tiên, giải pháp có tính “đột phá” trong thời đại số hóa.
Một trong những yêu cầu có tính nguyên tắc của dạy học phát triển năng lực HS là GV cần cân nhắc tới đặc điểm nhận thức, nhu cầu, mong muốn và điều kiện đảm bảo việc tham gia hiệu quả mỗi hoạt động giáo dục nói chung, hoạt động học tập đặc trưng trong mỗi môn học nói riêng của từng HS, nhóm HS nhằm hình thành và phát triển ở HS bậc THPT năng lực “đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập; hình thành cách học riêng của bản thân” [3; tr. Tuy nhiên, trong hơn 70 mô hình nghiên cứu về PCHT [24]. Hiện nay, mô hình VARK là mô hình giảng dạy phân loại người học theo đặc điểm phong cách của họ được chấp nhận nhiều nhất [36]. Sự thành công của mô hình VARK bắt nguồn từ tính xác thực, khả năng sử dụng và nhiều tài nguyên học tập sẵn có để bổ sung cho nó.
Theo phân loại của tác giả Flemming, PCHT của HS gồm 4 loại chính là thị giác (Visual), thính giác (Auditory), đọc/ viết (Read/ write), vận động (Kinesthetic). Một HS có thể sở hữu nhiều hơn một hoặc thậm chí cả 4 PCHT. Học tập theo PCHT phù hợp tạo hứng thú cho HS, giúp việc lĩnh hội kiến thức trở nên hiệu quả. Từ đó, sử dụng HLĐT dựa trên PCHT VARK có thể áp dụng vào DHLS nhằm phát triển năng lực, phẩm chất cho người học.
DHLS là hoạt động mang tính đặc thù. Khác với các bộ môn khác, tri thức lịch sử mang những đặc trưng: tính quá khứ, tính không lặp lại… Trong DHLS, phương tiện trực quan nói chung và HLĐT nói riêng có vai trò rất quan trọng. Nó không chỉ có ý nghĩa cụ thể hóa thuần túy mà còn giúp phát triển tư duy, năng lực của người học. Đặc biệt, với việc vận dụng mô hình PCHT VARK, GV có thể đa dạng hình thức HLĐT theo PCHT của người học, tăng cường tính trực quan, nhằm phát triển năng lực cho HS.
2 Xuất phát từ các lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài Sử dụng học liệu điện tử dựa trên phong cách học tập VARK trong dạy học chủ đề "Cách mạng tư sản và sự phát triển của chủ nghĩa tư bản" ở trường Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong, Nam Định làm đề tài luận văn thạc sĩ Khoa học Giáo dục, chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Vấn đề sử dụng HLĐT trong DHLS và vận dụng mô hình PCHT VARK trong dạy học nói chung, trong DHLS nói riêng đã được nhiều nhà khoa học, nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm. Tính đến thời điểm hiện tại đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này. Dưới đây, tôi xin điểm lại một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến vấn đề đã nêu.
❖ Các nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu về sử dụng học liệu điện tử trong dạy học môn Lịch sử Các tác giả Terry Haydn và Christine Counsell trong cuốn “Môn Lịch sử, công nghệ thông tin và việc học tập tại trường phổ thông” (History, ICT and Learning in the Secondary school) đã đưa ra những phân tích về xây dựng các gói học liệu (learning packages) dưới hình thức trang web học tập là một trong những gợi ý thiết kế học liệu điện tử cho bài học cụ thể giúp giáo viên cải thiện chất lượng dạy học, phát triển năng lực của HS: “Trang web học tập có thể bao gồm nhiều tài liệu có giá trị: văn bản, phim tư liệu, tranh ảnh. Một số trang web còn cho phép truy cập đến các tư liệu gốc và số liệu cập nhật. Nó có thể là cung cấp dữ liệu để học sinh thảo luận hoặc cho phép học sinh để tạo ra một sản phẩm mới” [43; tr. Trong bài viết “Mô hình học tập dựa trên trò chơi kĩ thuật số và biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Lịch sử” (Digital Game-based learning model and development methodology for teaching history) trên tạp chí WSEAS Transactions 3 on Computers, các tác giả Nor Azan Mat Zin, Azizah Jaafar, Wong Seng Yue sử dụng trò chơi kĩ thuật số (digital game) như một loại học liệu điện tử trong dạy học lịch sử.
Qua phân tích sơ bộ kết quả khảo sát ở các trường trung học địa phương, các tác giả khẳng định việc sử dụng học liệu điện tử nói chung và sử dụng trò chơi kĩ thuật số nói riêng trong dạy học lịch sử sẽ có những lợi thế cụ thể sau: “cụ thể hóa cho sự kiện lịch sử; tăng hứng thú học tập của học sinh đối với môn Lịch sử; học lịch sử thông qua các trải nghiệm sáng tạo” [37; tr. Trong bài viết: “Bạn tư duy nhiều hơn khi bạn quan sát: Cơ sở cho việc sử dụng phim tư liệu trong dạy học khám phá Lịch sử ở trường trung học” (It Makes You Think More When You Watch Things: Scaffolding for Historical Inquiry Using Film in the Middle School Classroom), tác giả Adam Woelders khẳng định: “Giáo viên nên sử dụng phim để khuyến khích học sinh tìm hiểu lịch sử. Phim có thể cho học sinh thấy một cách rõ ràng về cách kiến thức lịch sử được sử dụng và thể hiện trên các phương tiện truyền thông mà học sinh thấy mỗi ngày. Bằng việc so sánh các nguồn thông tin khác nhau người học có thể thông qua nội dung, hình tượng và giá trị của bộ phim để xây dựng hiểu biết của mình về quá khứ.
Các tác giả của cuốn “Dạy và học Lịch sử với công nghệ” (Pastplay: Teaching and Learning History with Technology) đã tập trung hướng dẫn xây dựng các trò chơi học tập với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin thông qua các ứng dụng ảo (virtual), mô hình 3D, Google Earth, và các trang web học tập… nhằm tạo hứng thú cho người học và nâng cao hiệu quả bài học Lịch sử. Bên cạnh đó, các tác giả còn đưa ra quan điểm riêng, sự thiếu hiệu quả của cách giảng dạy tập trung vào việc kể chuyện, dựa chủ yếu vào sách giáo khoa và sự cần thiết của việc HS phải tích cực tham gia vào các hoạt động như: đưa ra quan điểm, phê phán tư liệu, nghiên cứu, và điều tra lịch sử… Từ đó, tác giả khẳng định: “Sử dụng công 4 nghệ thông tin khuyến khích được sự sáng tạo của người học bằng cách tạo cơ hội để người học tìm hiểu quá khứ theo các cách thức mới. Khái niệm cũ nhưng công cụ mới, điều đó mở ra những cơ hội học tập mà trước đây không có” [35; tr. Nghiên cứu về mô hình VARK và việc vận dụng mô hình phong cách học tập VARK trong dạy học Xuất phát điểm đầu tiên, mô hình VAK là mô hình PCHT do Walter Burke Barbe thiết kế năm 1979.
Mô hình VAK là chữ viết tắt của Visual - Auditory và Kinesthetic đã được sử dụng khá nhiều trong dạy Tiếng Anh. Mô hình này đã đưa ra một số chỉ dẫn về PPDH thích hợp đối với từng PCHT VAK như: người có PCHT kiểu thính giác thì họ sẽ học tốt nhất khi tham gia hoạt động phỏng vấn, tranh luận, thảo luận …, người học kiểu thị giác thì sẽ học hiệu quả hơn với các sơ đồ, hình ảnh, hoạt hình… Mô hình PCHT VARK đã được đề xuất bởi Fleming (1987) và cùng Mills hoàn thiện năm 1992 được dựa trên kinh nghiệm của GV và HS trong quá trình dạy và học. Mô hình PCHT VARK được Neil Fleming xây dựng dựa vào 4 PCHT chủ đạo của HS gồm thị giác (Visual), thính giác (Auditory), đọc/ viết (Read/ write), vận động (Kinesthetic) để tiếp nhận thông tin. Mô hình PCHT VARK là một trong những mô hình PCHT phổ biến, được sử dụng rộng rãi trong các trường học trên thế giới.
Vận dụng mô hình PCHT VARK trong dạy học giúp GV bộ môn nói chung và GV môn Lịch sử nói riêng biết cách tổ chức các hoạt động học tập phù hợp với đặc điểm tiếp nhận thông tin của từng HS. Trên cơ sở đó, HS tích cực, chủ động, tự tin khám phá tri thức, nhờ đó góp phần kích thích hứng thú học tập và nâng cao hiệu quả học tập của HS. Ngoài ra, còn có một mô hình PCHT khác dựa trên hai mô hình VAK và VARK nêu trên đó là mô hình VAKT: Visual (Hình ảnh) - Auditory (Âm thanh) - Kinesthetic (Vận động) - Tactile (Sờ/ Chạm).