Chương 1. Mục tiêu của chương này nhằm giới thiệu sự tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kết cấu của đề tài và ý nghĩa của đề tài. Cơ sở lý luận, tong quan nghiên cứu và xây dựng giả thuyết nghiên cứu. Mục tiêu chương này nhằm trình bày các lý thuyết có liên quan đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận và các mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận.
Bên cạnh đó, trong chương này cũng trình bày tổng quan các nghiên cứu trước đây ở trong nước và ngoài nước về ảnh hưởng của đặc điểm doanh nghiệp đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Phương pháp nghiên cứu. Nội dung chính của chương này tac giả sẽ trình bay quy trình nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, đo lường các biến trong mô hình, các giả thuyết để kiểm định, phương pháp thu thập dữ liệu dé thực hiện nghiên cứu. Trong chương nay tác giả cũng trình bày các phương pháp ước lượng hồi quy dữ liệu bảng và các phương pháp kiểm định các khuyết tật của mô hình.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Trong chương này, khoá luận trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng đặc điểm doanh nghiệp đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty ngành dịch vụ niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Đồng thời thảo luận các kết quả thực nghiệm và so sánh với các kết quả của các tác giả trước đây. Dựa trên kết quả nghiên cứu của chương 4, trong chương này, bài khoá luận đề xuất các hàm ý quan trị cho các bên liên quan có thé hạn chế hành vi điều chỉnh lợi nhuận và nâng cao chất lượng thông tin báo cáo tài chính của các công ty ngành dịch vụ niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới.
CƠ SO LÝ LUẬN, TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ XÂY DỰNG GIÁ THUYET NGHIÊN CỨU. Tổng quan lý thuyết về hành vi điều chỉnh lợi nhuận 2. Khái niệm hành vi điều chỉnh lợi nhuận Ngày 9/3/2018, Việt Nam đã ký kết Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) cùng với việc áp dụng hàng loạt cải cách thuế, đặc biệt là những chính sách thuế suất ưu đãi và thuế suất thu nhập doanh nghiệp cho các lĩnh vực mới. Việc giảm thuế suất là xu hướng tắt yếu và phù hợp với tiến trình các quốc gia trong khu vực Châu Á.
Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến sự thay đổi trong các hành vi quản trị của doanh nghiệp, trong đó có hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Hành vi điều chỉnh lợi nhuận là việc sử dụng các công cụ kế toán dé thay đổi lợi nhuận của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận thông qua việc điều chỉnh doanh thu và chỉ phí. Hành vi này đã được đề cập đến lần đầu tiên trong nghiên cứu của Hepwworth vào năm 1953, khi ông chỉ ra rằng các nhà quản trị doanh nghiệp đã sử dụng hành vi và cách thức tương tự nhau để san đều lợi nhuận giữa các năm nhằm giảm mức độ đánh giá rủi ro của các nhà đầu tư đối với doanh nghiệp. Với xu hướng giảm thuế suất, doanh nghiệp có thể sử dụng hành vi điều chỉnh lợi nhuận như một cách dé tối đa hóa lợi nhuận của mình.
Bằng cách sử dụng các kỹ thuật kế toán, các nhà quan lý có thé thay đổi thông tin tài chính dé tạo ra một hình ảnh thuận lợi hơn về hiệu suất của công ty và tăng tính hấp dẫn cho các nhà đầu tư. Họ cũng có thể sử dụng hành vi điều chỉnh lợi nhuận đề tránh các hình phạt hoặc ảnh hưởng tiêu cực từ các quy định tài chính hoặc che giấu các van dé tài chính tiềm ân khỏi các bên liên quan. Mặc dù hành vi điều chỉnh lợi nhuận có thể là một thực hành pháp lý và chấp nhận được, nhưng vẫn có những lo ngại về các hậu quả đạo đức của nó. Thay đổi kết qua tài chính có thé làm méo mo vị trí tài chính thực sự của công ty và cung cấp thông tin sai lệch cho các bên liên quan, điều này có thé gây ra hậu quả tiêu cực cho các nhà đầu tư và các nhà tài trợ.
Hơn nữa, điều này có thể làm suy yếu tính toàn vẹn của hệ thông báo cáo tài chính và làm tôn hại đên uy tín của công ty. Do đó, quan trọng là các doanh nghiệp phải có các quy trình báo cáo tài chính minh bạch và các cơ quan quản lý phải thực thi các quy định để ngăn chặn hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Điều này bao gồm thực hiện các tiêu chuẩn kế toán mạnh, khuyến khích độc lập của kiểm toán viên và tăng cường tính minh bạch trong báo cáo tài chính. Nhờ đó, các doanh nghiệp có thé xây dựng niềm tin với các bên liên quan và đảm bảo thành công lâu dài trong môi trường kinh doanh cạnh tranh.
Hành vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp được nhắc tới lần đầu tiên trong nghiên cứu của Hepwworth năm 1953 khi chi ra hành vi cùng cách thức ma các nhà quan trị doanh nghiệp đã sử dụng dé san đều lợi nhuận giữa các năm nhằm mục địch làm giảm mức độ đánh giá rủi ro của các nhà đầu tư với doanh nghiệp. Dù có những tên gọi khác nhau nhưng hành vi điều chỉnh lợi nhuận là việc làm “méo m6” các số liệu lợi nhuận được doanh nghiệp thực hiện qua điều chỉnh doanh thu và chi phí. Các nhà quan trị công ty làm thay đổi lợi nhuận kế toán nhăm đạt được mục tiêu lợi nhuận thông qua công cụ kế toán. Trong khoa học và một số bài nghiên cứu, hành vi này thường được gọi chung là quản tri lợi nhuận.
Theo Schipper (1989) hành vi điều chỉnh lợi nhuận là hành vi có mục đích đối với quy trình lập và trình bày BCTC nhằm đạt được lợi ích cá nhân. Hay đối với nghiên cứu của Healy và Wahlen (1999) thì “Hành vi điều chỉnh lợi nhuận xuất hiện khi nhà quản trị xét đoán trên BCTC và trong cấu trúc các nghiệp vụ kinh tế nhằm thay đổi BCTC dé gây hiểu lầm cho một số đối tượng liên quan về thực trạng kinh tế của doanh nghiệp hoặc nhăm tác động đến kết quả của các hợp đồng kinh tế mà chúng dựa trên số liệu kế toán”. Trong nghiên cứu của Ronen và Yaari (2008), họ đưa ra một định nghĩa tổng quát về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp. Theo đó, hành vi điều chỉnh lợi nhuận là một tập hợp các quyết định quản lý nhằm tối đa hóa giá trị thu nhập theo dự tính của nhà quản lý, mà không báo cáo hiện trạng trong ngắn hạn.
Hành vi này có thể mang tính chất có lợi, có hại hoặc trung tính. Nếu có lợi, nó cho thấy giá trị ở dài hạn, trong khi có hại thì che dấu giá trị ngắn hạn và dài hạn. Hành vi điều chỉnh lợi nhuận là sự can thiệp có mục đích vào quá trình doanh nghiệp cung cấp thông tin tài chính ra bên ngoài dé đạt được lợi ích cá nhân. Thông qua việc đưa ra các quyết định về sản xuất, đầu tư trước khi biết lợi nhuận cuối cùng, hoặc thực hiện lựa chọn các chính sách kế toán có ảnh hưởng đến lợi nhuận sau khi biết chắc chắn về lợi nhuận thực tế đã có.
Từ định nghĩa này, chúng ta có thê thấy rằng hành vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp có thé ảnh hưởng đến kha năng cung cấp thông tin tài chính chính xác và minh bạch cho cô đông và các bên liên quan khác. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, vì thông tin tài chính chính xác là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá giá trị của công ty và đưa ra quyết định đầu tư. Do đó, các chính sách và quy định pháp lý phải đảm bảo tính minh bạch và trung thực trong việc cung cấp thông tin tài chính của doanh nghiệp. Mục đích của hành vi điều chỉnh lợi nhuận Trong nghiên cứu của Healy và Wahlen (1999) có ba động cơ chủ đạo để thực hiện điều chỉnh lợi nhuận: - _ Động cơ về thị trường vốn: Một trong những động cơ chính để các nhà quản lý thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận là động cơ từ thị trường vốn.
Thường thì các nhà quản lý sẽ thực hiện hành vi này dé đạt hoặc vượt mức lợi nhuận mục tiêu, phát hành cổ phiếu, mua bán hoặc sáp nhập doanh nghiệp. Các nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng cho thay những nha quản lý thường có xu hướng chi phối lợi nhuận dé đạt hoặc vượt mức lợi nhuận mục tiêu. Điều này có thé được giải thích bang lý thuyết chính trị, trong đó yếu tố phí tôn chính trị đóng một vai trò quan trọng trong doanh nghiệp. Cụ thé, các phí tổn phi hợp đồng như áp lực từ công đoàn dé tăng lương hoặc áp lực từ các cổ đông quá khích sẽ gây sức ép lên nhà quản lý dé tăng lợi nhuận.
Điều này đưa ra động lực cho các nhà quan lý dé thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua các thủ thuật kế toán. Nghiên cứu của Burgstahler và Eames (1998) cũng đã cho thấy răng các doanh nghiệp thường điều chỉnh lợi nhuận dé đáp ứng kỳ vọng của các nhà phân tích tài chính. Bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm cũng cho thấy rang giá cô phiếu có xu hướng tăng khi doanh nghiệp đạt được mức lợi nhuận cao hơn so với dự báo của thị trường, trong khi sự thất bại trong việc đạt được mức lợi nhuận kỳ 10 vọng cũng sẽ bị trừng phạt mạnh bởi thị trường. Do đó, để tránh sự trừng phạt này, các nhà quản lý thường có xu hướng trình bày mức lợi nhuận đạt hoặc vượt mức lợi nhuận mục tiêu.
Tuy nhiên, điều này có thể dẫn đến việc cung cấp thông tin tài chính không chính xác và không minh bạch cho các cô đông và các bên liên quan khác, gây rủi ro cho doanh nghiệp và thị trường chứng khoán nói chung. Các nhà quản lý cũng thường điều chỉnh lợi nhuận trước khi phát hành cô phiếu hoặc phát hành thêm cô phiếu. Trong các thương vụ sáp nhập và mua bán doanh nghiệp, hành động điều chỉnh lợi nhuận cũng có thể được thực hiện. Xu hướng thường là đây lợi nhuận lên cao để tăng giá cổ phiếu trước khi thực hiện thương vụ.
Nhiều tác giả đã nghiên cứu thực nghiệm về hành vi điều chỉnh lợi nhuận trước khi thực hiện các thương vụ mua lại.