Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong lịch sử y học cổ truyền và dược học hiện đại, thực vật luôn đóng vai trò là nguồn cung cấp dược liệu và tiền chất hóa học quan trọng. Ước tính có tới 80% các hoạt chất đang được ứng dụng trong điều trị y học hiện đại có nguồn gốc từ tự nhiên hoặc được tổng hợp, bán tổng hợp dựa trên cấu trúc khung của các hợp chất thiên nhiên. Do đó, việc khảo sát thành phần hóa học và thăm dò hoạt tính sinh học từ các loài thực vật bản địa luôn là hướng tiếp cận có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cao.

Chi Boerhaavia, thuộc họ Bông phấn (Nyctaginaceae), gồm hơn 40 loài phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới. Nhiều loài trong chi này đã được sử dụng rộng rãi trong y học dân gian của Ấn Độ, Sri Lanka, Nepal, Brazil và các quốc gia châu Phi để điều trị các chứng viêm nhiễm, bệnh về gan, thận, túi mật, vàng da, phù nề, hen suyễn và bồi bổ cơ thể. Các nghiên cứu hóa dược trên thế giới đã chứng minh chi Boerhaavia chứa nhiều nhóm hợp chất có hoạt tính sinh học phong phú như rotenoid, triterpen, steroid, alkaloid, lignan và flavonoid.

Tại Việt Nam, các tài liệu thực vật học ghi nhận sự hiện diện của khoảng 3 loài thuộc chi Boerhaavia, bao gồm: Nam sâm bò (Boerhaavia diffusa Linn), Nam sâm đứng (Boerhaavia erecta L.) và Nam sâm Trung Quốc (Boerhaavia chinensis). Mặc dù loài Nam sâm đứng (Boerhaavia erecta L.) mọc hoang phổ biến ở nhiều tỉnh thành, có khả năng thích nghi cao với điều kiện khô hạn và sinh khối lớn, nhưng các nghiên cứu về thành phần hóa thực vật của loài này tại Việt Nam vẫn còn rất hạn chế so với loài Boerhaavia diffusa. Đa số các ứng dụng y học và dữ liệu nghiên cứu công bố trước đây chỉ tập trung vào Nam sâm bò. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài khóa luận tập trung nghiên cứu thành phần hóa học của cây Nam sâm đứng thu hái tại địa phương nhằm đóng góp các dẫn liệu khoa học mới về mặt hóa thực vật cho nguồn tài nguyên cây thuốc Việt Nam.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm:

  1. Thu hái, xử lý mẫu và điều chế các phân đoạn cao chiết (cao tổng metanol, cao ete dầu hỏa, cao etyl acetat) từ bộ phận thân lá của cây Nam sâm đứng (Boerhaavia erecta L.).
  2. Ứng dụng các kỹ thuật sắc ký cột pha thường và sắc ký lớp mỏng để phân tách, trích ly và cô lập các hợp chất hữu cơ tinh khiết từ phân đoạn cao etyl acetat.
  3. Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất cô lập được bằng phương pháp phân tích phổ cộng hưởng từ hạt nhân (1D-NMR và 2D-NMR), kết hợp so sánh với các tài liệu phổ học đã công bố.
  4. Đánh giá và so sánh đặc tính hóa thực vật của cây Nam sâm đứng (Boerhaavia erecta L.) với các loài khác trong cùng chi Boerhaavia.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ phần thân và lá tươi của loài cây Nam sâm đứng (Boerhaavia erecta L.), thuộc chi Boerhaavia, họ Bông phấn (Nyctaginaceae). Mẫu thực vật được nhận danh phân loại khoa học bởi Dược sĩ Phan Đức Bình (Phó Tổng biên tập Tạp chí Thuốc và Sức Khỏe, Hội Dược học Việt Nam).
  • Phạm vi không gian: Mẫu thực vật được thu hái tại quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Toàn bộ quy trình thực nghiệm chiết xuất, sắc ký phân lập và phân tích phổ được tiến hành tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Hóa hữu cơ, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh và Phòng thí nghiệm Hóa hữu cơ, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Mẫu nguyên liệu thu hái vào tháng 9 năm 2009; quá trình phân tích thực nghiệm và hoàn thiện khóa luận được thực hiện đến tháng 5 năm 2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết về hóa học các hợp chất thiên nhiên (Natural Products Chemistry), kết hợp tổng quan về phân loại thực vật học và dược tính của chi Boerhaavia.

Về mặt thực vật học, loài Boerhaavia erecta L. là dạng cỏ mảnh, chiều cao từ 40-80 cm, thân mọc thẳng đứng hoặc có xu hướng rủ xuống ở nách chồi, chót cành mang lớp lông mịn. Lá mọc đối, phiến lá hình trứng hoặc dạng elip thon dài, kích thước khoảng 2-3 cm, mặt dưới có màu trắng như phủ bột và chứa tuyến, mặt trên có màu xanh lục, cuống lá dài 1-4 cm. Cụm hoa dạng chùy tụ tán dài, mỗi nhánh chót mang tụ tán 3 hoa; bao hoa màu trắng, hồng hoặc đỏ, dài 1,5-2 mm; tiểu nhụy từ 1 đến 2. Quả có hình chùy lật ngược, cao khoảng 4 mm. Cây có khả năng sinh trưởng mạnh mẽ trên các vùng đất cát, khô cằn như Ninh Thuận, Bình Thuận, Ninh Hòa, Phú Yên.

Tổng quan dược tính và thành phần hóa học của chi Boerhaavia từ các công trình quốc tế cho thấy:

  • Hoạt tính sinh học: Dịch chiết từ các loài trong chi có tác dụng bảo vệ gan chống lại độc tính gây bởi CCl4 (Tillan Hood et al., 2009), chống stress (2007), giảm đau, kháng viêm, hạ đường huyết, lợi tiểu, hạ huyết áp, chống co giật và ngăn ngừa sự phát triển của các tế bào khối u. Nghiên cứu của Rajeswari và Krishnakumari (2010) ghi nhận dịch chiết metanol của lá B. erecta có hàm lượng tổng phenol đạt 85,97 và flavonoid đạt 11,86.
  • Thành phần hóa học đã biết: Chi Boerhaavia chứa nhiều nhóm hợp chất như rotenoid (dòng hợp chất boeravinone A, B, C, D, E, F, H, I, coccineone B), flavonoid (eupalitin, kaempferol, quercetin và các dẫn xuất glycoside), alkaloid (punarnavine-1, punarnavine-2, amarantin), lignan (liriodendrin, syringaresinol mono-β-D-glucoside), các amino acid, steroid (β-sitosterol) và các acid béo mạch dài.
Nhóm hợp chất Các chất tiêu biểu đã được công bố trong chi Boerhaavia
Rotenoid Boeravinone A, B, C, D, E, F, H, I; Coccineone B; Diffusarotenoid
Flavonoid & Glycoside Quercetin, Kaempferol, Eupalitin 3-O-β-D-galactopyranoside, Quercetin 3-O-robinobioside
Alkaloid & Lignan Punarnavine-1, Punarnavine-2, Punarnavoside, Amarantin, Liriodendrin, Syringaresinol
Dinh dưỡng & Khoáng chất Carbohydrat, Vitamin C (44,4 mg/100g), Vitamin A, Ca (162 mg/100g), Mg, Fe, P, K, Na

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được tác giả triển khai bao gồm:

  1. Phương pháp chiết xuất và phân bố lỏng - lỏng:
    • Sử dụng phương pháp ngâm dầm (maceration) bột thân lá khô với dung môi metanol ở nhiệt độ phòng, lọc và cô quay thu hồi dung môi dưới áp suất giảm để thu cao metanol thô.
    • Phân bố lỏng - lỏng cao thô lần lượt với các dung môi có độ phân cực tăng dần: ete dầu hỏa (ED) và etyl acetat (EA), thu được các phân đoạn cao tương ứng và phần cao metanol còn lại.
  2. Phương pháp sắc ký (Chromatography):
    • Sắc ký cột cổ điển (CC): Sử dụng chất hấp phụ pha thường là Silica gel (kích thước hạt 0,040 - 0,063 mm), rửa giải bằng hệ dung môi gradient có độ phân cực tăng dần gồm Hexan : Etyl acetat (tỷ lệ từ 8:2 đến 0:10) và Etyl acetat : Metanol (tỷ lệ từ 10:0 đến 5:5).
    • Sắc ký lớp mỏng (TLC): Sử dụng bản mỏng nhôm tráng sẵn Silica gel 60 F254 để kiểm tra độ tinh khiết và gộp các phân đoạn có cùng vết sắc ký. Hệ dung môi triển khai là Cloroform : Metanol : Nước (tỷ lệ 8:2:0,1).
    • Phương pháp phát hiện vết: Quan sát dưới đèn tử ngoại ở bước sóng 254 nm và 365 nm; hiện màu bằng thuốc thử dung dịch acid H2SO4 30% (sấy nóng 100 - 110°C) và dung dịch FeCl3 trong cồn để nhận dạng sơ bộ các hợp chất nhóm polyphenol/flavonoid.
  3. Phương pháp phân tích cấu trúc hóa học:
    • Xác định nhiệt độ nóng chảy bằng máy đo điểm nóng chảy chuyên dụng.
    • Phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR): Ghi phổ 1D (1H-NMR, 13C-NMR, DEPT) và phổ 2D (HSQC, HMBC) trên máy quang phổ Bruker với dung môi pha mẫu là CD3OD.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ tài liệu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đối tượng nghiên cứu. Nội dung chương tập trung vào ba phần trọng tâm:

  1. Đặc tính thực vật học của chi Boerhaavia: Trình bày vị trí phân loại của chi Boerhaavia thuộc họ Bông phấn (Nyctaginaceae), phân bố địa lý trên thế giới và tại Việt Nam. Mô tả chi tiết các đặc điểm hình thái về thân, cành, lá, cụm hoa, quả và khả năng thích nghi sinh thái của loài Nam sâm đứng (Boerhaavia erecta L.).
  2. Dược tính và công dụng dân gian: Tổng hợp các kinh nghiệm sử dụng truyền thống của các loài cùng chi (đặc biệt là B. diffusa) trong các nền y học cổ truyền châu Á và Nam Mỹ. Đồng thời điểm luận các kết quả nghiên cứu dược lý thực nghiệm hiện đại về khả năng kháng viêm, lợi tiểu, bảo vệ tế bào gan, hạ đường huyết, chống co giật và ức chế tế bào ung thư.
  3. Thành phần hóa thực vật: Liệt kê và tổng hợp các công trình phân lập hợp chất từ các bộ phận rễ, thân, lá của các cây thuộc chi Boerhaavia, bao gồm cấu trúc khung của hàng loạt dẫn xuất rotenoid (boeravinone), flavonoid aglycon và flavonoid glycoside, alkaloid, lignan, các hợp chất dinh dưỡng và khoáng chất.

Chương 2: Nghiên cứu và kết quả

Chương 2 trình bày toàn bộ tiến trình thực nghiệm chiết xuất, phân lập sắc ký và quá trình biện luận cấu trúc hóa học của các hợp chất tinh khiết thu được từ cây Nam sâm đứng:

  • Thu hái và xử lý mẫu: Mẫu thân lá tươi sau khi thu hái tại Thủ Đức được rửa sạch tạp chất, phơi khô trong bóng râm và xay nhuyễn thu được 3,8 kg bột khô đồng nhất.

  • Điều chế các loại cao: Bột khô (3,8 kg) được ngâm dầm kiệt với metanol ở nhiệt độ phòng. Dịch ngâm được lọc và cô quay thu hồi dung môi, thu được 245 g cao metanol thô. Tiến hành trích lỏng - lỏng phân đoạn thu được:

    • Cao ete dầu hỏa (ED): 38,1 g (hiệu suất 15,55% so với cao metanol thô).
    • Cao etyl acetat (EA): 25,1 g (hiệu suất 10,24% so với cao metanol thô).
    • Cao metanol còn lại (M): 160,0 g (hiệu suất 65,31% so với cao metanol thô).
  • Phân tách sắc ký trên cao etyl acetat: Sắc ký cột 25,1 g cao etyl acetat trên chất hấp phụ silica gel pha thường, rửa giải bằng hệ dung môi hexan - etyl acetat - metanol thu được 6 phân đoạn chính (ký hiệu từ EA.A đến EA.F). Trong đó, phân đoạn EA.F (1,5 g) có số lượng vết tách rõ và đẹp trên bản mỏng nên được lựa chọn để tiếp tục phân lập sâu:

    • Phân đoạn EA.F (1,5 g) được sắc ký cột silica gel với hệ dung môi Cloroform : Metanol : Nước (8:2:0,1), thu được các phân đoạn phụ bao gồm EA.F1 và EA.F3.
    • Phân đoạn EA.F1 (580 mg) qua sắc ký cột lặp lại nhiều lần với hệ C:M:N (8:2:0,1) đã cô lập được Hợp chất 1 (EREC-EA25) với khối lượng 10 mg.
    • Phân đoạn EA.F3 (720 mg) qua sắc ký cột lặp lại nhiều lần với hệ C:M:N (8:2:0,1) đã cô lập được Hợp chất 2 (EREC-EA26) với khối lượng 8 mg.
Ký hiệu mẫu Trọng lượng cao (g) Tỷ lệ thu suất so với cao MeOH thô (%)
Cao Ete dầu hỏa (ED) 38,1 g 15,55%
Cao Etyl acetat (EA) 25,1 g 10,24%
Cao Metanol còn lại (M) 160,0 g 65,31%
Tổng lượng cao thu hồi 223,2 g 91,10%
  • Khảo sát cấu trúc hóa học của các hợp chất cô lập:
    1. Hợp chất 1 (EREC-EA25): Dạng tinh thể hình kim màu vàng, tan tốt trong metanol, có nhiệt độ nóng chảy 231 - 232°C. Sắc ký lớp mỏng (hệ C:M:N 8:2:0,1) cho một vết có Rf = 0,5, hiện màu vàng với H2SO4 30% và màu xanh đen với FeCl3/ancol, gợi ý cấu trúc thuộc nhóm flavonoid. Phổ 1H-NMR ghi nhận hệ thống ghép spin ABX trên vòng B (δH 7,5 ppm và δH 7,0 ppm) cùng hai mũi ghép meta trên vòng A tại δH 6,5 ppm và δH 6,39 ppm. Tín hiệu proton anomer tại δH 5,25 ppm kết hợp với phổ 13C-NMR cho thấy sự hiện diện của 21 carbon (15 carbon aglycon và 6 carbon của phân đoạn đường glucose). Tương quan HMBC giữa proton anomer C-1'' với carbon C-3 (δC 135,7 ppm) xác định gốc đường gắn tại vị trí C-3 của khung flavonol. Cấu trúc được xác định là quercetin 3-O-β-D-glucopyranoside.
    2. Hợp chất 2 (EREC-EA26): Dạng bột vô định hình màu vàng, tan trong metanol, có Rf = 0,4 trên sắc ký lớp mỏng (hệ C:M:N 8:2:0,1). Phổ 1H-NMR thể hiện hệ thống đối xứng AA'BB' trên vòng B của aglycon kaempferol (δH 8,04 ppm và δH 6,92 ppm, J = 9 Hz). Phổ 13C-NMR và DEPT ghi nhận 27 carbon, chứng minh hợp chất chứa 2 đơn vị đường gồm β-D-glucose và α-L-rhamnose. Sự xuất hiện của mũi ba proton nhóm metyl rhamnose tại δH 1,12 ppm (d, J = 6,5 Hz) và δC 16,x ppm, cùng tương quan HMBC từ proton anomer H-1''' của rhamnose tới carbon C-6'' (δC 67,2 ppm) của glucose xác lập cầu nối glycoside 1→6 (mạch rutinose gắn vào vị trí C-3). Cấu trúc được xác định là kaempferol 3-O-β-D-rutinoside.

Chương 3: Kết luận

Chương 3 tổng kết các kết quả đạt được trong toàn bộ khóa luận, nhấn mạnh vào việc phân đoạn thành công 3 loại cao chiết và cô lập tinh khiết 2 hợp chất flavonoid glycoside từ phân đoạn cao etyl acetat của cây Nam sâm đứng thu hái tại Thủ Đức. Tác giả cũng nêu rõ các định hướng mở rộng nghiên cứu thành phần hóa học và thăm dò hoạt tính sinh học cho các phân đoạn cao còn lại trong giai đoạn tiếp theo.


Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu với các số liệu thực nghiệm định lượng cụ thể:

  1. Đã chiết xuất từ 3,8 kg bột khô thân lá cây Boerhaavia erecta L. thu được 245 g cao metanol thô; phân chia thành công 3 phân đoạn cao chiết gồm 38,1 g cao ete dầu hỏa (15,55%), 25,1 g cao etyl acetat (10,24%) và 160,0 g cao metanol còn lại (65,31%).
  2. Từ 1,5 g phân đoạn EA.F của cao etyl acetat, bằng kỹ thuật sắc ký cột silica gel pha thường với hệ dung môi Cloroform : Metanol : Nước (8:2:0,1), đã cô lập thành công 2 hợp chất hữu cơ sạch:
    • EREC-EA25 (10 mg): Tinh thể hình kim màu vàng, nhiệt độ nóng chảy 231 - 232°C.
    • EREC-EA26 (8 mg): Bột vô định hình màu vàng.
  3. Đã giải đoán và xác định chính xác cấu trúc hóa học của 2 hợp chất dựa trên tổ hợp dữ liệu phổ cộng hưởng từ hạt nhân đa chiều (1H-NMR, 13C-NMR, DEPT, HSQC, HMBC):
    • Hợp chất EREC-EA25 là quercetin 3-O-β-D-glucopyranoside.
    • Hợp chất EREC-EA26 là kaempferol 3-O-β-D-rutinoside.
Đặc điểm / Thông số Hợp chất EREC-EA25 Hợp chất EREC-EA26
Tên cấu trúc đề nghị Quercetin 3-O-β-D-glucopyranoside Kaempferol 3-O-β-D-rutinoside
Dạng tồn tại & Màu sắc Tinh thể hình kim, màu vàng Bột vô định hình, màu vàng
Nhiệt độ nóng chảy (°C) 231 - 232°C Vô định hình
Hệ số lưu giữ Rf (C:M:N 8:2:0,1) 0,5 0,4
Số lượng carbon 21 carbon 27 carbon
Thành phần cấu trúc Aglycon Quercetin + 1 gốc β-D-glucose Aglycon Kaempferol + mạch đường Rutinose (Glucose + Rhamnose)
Khối lượng cô lập được 10 mg 8 mg

Đóng góp khoa học của khóa luận:

  • Đây là công trình thực nghiệm đầu tiên tại Việt Nam khảo sát có hệ thống về quy trình chiết xuất và phân lập hóa thực vật trên loài Nam sâm đứng (Boerhaavia erecta L.) mọc hoang tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Cung cấp bộ dữ liệu phổ học chi tiết và minh chứng thực nghiệm về sự hiện diện của hai dẫn xuất flavonoid glycoside phân cực cao (quercetin 3-O-β-D-glucopyranoside và kaempferol 3-O-β-D-rutinoside) trong loài này, đóng góp cơ sở dữ liệu cho ngành hóa thực vật học và dược liệu học đối với chi Boerhaavia.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số hạn chế do điều kiện thời gian và phương tiện vật chất trong khuôn khổ thực hiện:

  • Phạm vi khảo sát hóa học: Khóa luận mới chỉ tập trung phân lập trên một phân đoạn nhỏ (EA.F) của cao etyl acetat. Các phân đoạn sắc ký khác của cao etyl acetat (EA.A đến EA.E) cùng với toàn bộ phân đoạn cao ete dầu hỏa và cao metanol còn lại vẫn chưa được phân tích sâu.
  • Thử nghiệm sinh học: Đề tài chưa triển khai đánh giá các hoạt tính sinh học thực nghiệm (in vitro hoặc in vivo) như hoạt tính chống oxy hóa, kháng khuẩn, kháng viêm hoặc bảo vệ gan trên các cao chiết và hai hợp chất tinh khiết cô lập được.

Các hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả đề xuất bao gồm:

  1. Tiếp tục mở rộng khảo sát thành phần hóa học trên các phân đoạn còn lại của cao etyl acetat nhằm tìm kiếm thêm các hợp chất thứ cấp mới hoặc các chất đặc trưng cho chi như rotenoid.
  2. Khảo sát thành phần hóa học của cao ete dầu hỏa (chứa các cấu tử kém phân cực như steroid, triterpen, acid béo) và cao metanol phân cực cao.
  3. Tiến hành thử nghiệm các hoạt tính sinh học tiềm năng trên các phân đoạn cao và các hợp chất tinh khiết đã cô lập nhằm làm sáng tỏ giá trị dược lý thực tế của cây Nam sâm đứng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu thực nghiệm hữu ích dành cho:

  • Sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh: Thuộc các chuyên ngành Hóa học (Hóa hữu cơ, Hóa hợp chất thiên nhiên), Dược học (Dược liệu học, Hóa dược), Sinh học thực vật có nhu cầu tham khảo quy trình phân tách các hợp chất thiên nhiên.
  • Nghiên cứu viên lĩnh vực hóa thực vật: Tham khảo quy trình điều chế cao phân đoạn, phương pháp lựa chọn hệ dung môi sắc ký cột (đặc biệt là hệ Cloroform : Metanol : Nước với tỷ lệ 8:2:0,1) để phân lập các hợp chất flavonoid mang chuỗi glycoside phân cực.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao nhất:
    • Quy trình xử lý mẫu thực vật và phương pháp sắc ký phân đoạn chi tiết trên cao etyl acetat.
    • Phương pháp phân tích và lập luận chi tiết các tín hiệu phổ 1D và 2D NMR để xác định vị trí liên kết glycoside và cấu hình không gian của các đơn vị đường gắn trên khung flavonol.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn mẫu thực vật Nam sâm đứng sử dụng trong nghiên cứu được thu hái ở đâu và được định danh như thế nào?

Mẫu thân và lá tươi của cây Nam sâm đứng được thu hái tại quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 9 năm 2009. Cây được giám định tên khoa học chính xác là Boerhaavia erecta L., thuộc chi Boerhaavia, họ Bông phấn (Nyctaginaceae) bởi Dược sĩ Phan Đức Bình, Phó Tổng biên tập Tạp chí Thuốc và Sức Khỏe thuộc Hội Dược học Việt Nam.

2. Hiệu suất thu hồi các phân đoạn cao chiết từ bột thân lá khô được ghi nhận như thế nào?

Từ 3,8 kg bột thân lá khô qua ngâm dầm metanol thu được 245 g cao metanol thô. Qua chiết phân bố lỏng - lỏng, tác giả thu được 38,1 g cao ete dầu hỏa (hiệu suất 15,55%), 25,1 g cao etyl acetat (hiệu suất 10,24%) và 160,0 g cao metanol còn lại (hiệu suất 65,31% so với lượng cao metanol thô ban đầu).

3. Những hợp chất nào đã được cô lập tinh khiết và xác định cấu trúc trong khóa luận này?

Tác giả đã cô lập được 2 hợp chất flavonoid glycoside từ phân đoạn EA.F của cao etyl acetat:

  • Hợp chất 1 (EREC-EA25, khối lượng 10 mg): Tinh thể hình kim màu vàng, nhiệt độ nóng chảy 231 - 232°C, được xác định là quercetin 3-O-β-D-glucopyranoside.
  • Hợp chất 2 (EREC-EA26, khối lượng 8 mg): Dạng bột vô định hình màu vàng, được xác định là kaempferol 3-O-β-D-rutinoside.

4. Dữ liệu phổ nào đóng vai trò quyết định trong việc xác định liên kết của mạch đường trong hợp chất EREC-EA26?

Cấu trúc mạch đường rutinose trong hợp chất EREC-EA26 được khẳng định nhờ phổ 13C-NMR và DEPT (xuất hiện tín hiệu carbon metylen C-6'' của glucose tại δC 67,2 ppm bị dịch chuyển về phía trường thấp so với glucose tự do), kết hợp với phổ tương quan tầm xa HMBC cho thấy tương quan rõ nét giữa proton anomer H-1''' (δH 4,55 ppm) của phân tử α-L-rhamnose với carbon C-6'' của phân tử β-D-glucose, chứng minh liên kết liên glycoside dạng (1→6).

5. Thuốc thử hóa học nào được sử dụng để định tính sơ bộ các vết sắc ký bản mỏng của hợp chất nhóm flavonoid?

Trên bản mỏng sắc ký lớp mỏng (TLC), tác giả sử dụng dung dịch acid H2SO4 30% (sau đó sấy nóng ở 100 - 110°C) cho vết màu vàng đặc trưng, và dung dịch FeCl3 trong cồn (sấy nhẹ) cho vết màu xanh đen, là các phản ứng hiện màu điển hình của các hợp chất chứa nhân phenol/flavonoid.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hương đã thực hiện thành công quy trình chiết xuất, phân lập và xác định cấu trúc hóa học của hai hợp chất flavonoid glycoside là quercetin 3-O-β-D-glucopyranoside và kaempferol 3-O-β-D-rutinoside từ phân đoạn cao etyl acetat của cây Nam sâm đứng (Boerhaavia erecta L.) thu hái tại Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Các cấu trúc được biện luận sáng tỏ thông qua hệ thống phổ cộng hưởng từ hạt nhân hiện đại (1D và 2D-NMR) kết hợp đối chiếu tài liệu chuẩn quốc tế. Đây là công trình thực nghiệm có ý nghĩa khoa học, cung cấp dẫn liệu hóa thực vật xác thực đầu tiên về loài Nam sâm đứng tại Việt Nam và mở ra tiền đề cho các hướng nghiên cứu sâu hơn về hóa học cũng như hoạt tính sinh học của loài dược liệu này.