MỞ ĐẦU Trong nhà trường tiểu học, nhiệm vụ cơ bản của việc dạy học toán là làm cho học sinh nấm được một hệ thống kiến thức toán học phổ thông, hiện đại và những kỹ năng cơ bản để vận dụng kiến thức, thực hành, suy luận trên cơ sở đó phát triển năng lực nhận thức, tư đuy độc lập sáng tạo, xây dựng những quan điểm tư tưởng tình cảm thái độ đúng đấn đối với sự kiện và hiện tượng. Dạy toán ở tiểu học còn tạo cho các em khả năng tự học, khả năng khái quát hóa vừa sức, khả năng nấm vững không những kiến thức cy thể mà còn cả những kiến thức trừu tượng. Trong bức thư gởi các bạn trẻ yêu toán tháng 11/1967 đồng chí Pham Văn Đồng đã nêu: “Trong các môn khoa học và kỹ thuật, toán học giữ một vị trí nổi bột, nó có tác dung lớn đối với nhiều ngành khoa học khác, đối với kỹ thuật,đối với sản xuất và chiến đấu. Nó còn là môn thể thao trí tuệ giúp chúng ta nhiều trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết các vấn dé, giúp chúng ta rèn luyện trí thông mình sáng tạo.
Nó còn giúp chúng ta rèn luyện nhiều đức tính quý báu khác như: cẩn cù nhẫn nại, tự lực cánh sinh, ý chí vượt khó, yêu thích chính xác, ham chuộng chân lý. Dù các bạn phục vụ ở ngành nào, trong công tác nào thì các kiến thức và phương pháp toán học cũng rất cần cho bạn" '"!! Lời nói trên của đổng chí Phạm Văn Déng đã nêu bật vị trí của môn toán: Ở tiểu học dạy học toán có một vị trí quan trọng vì những lý __ do: - Ngôn ngữ toán học, kiến thức toán học cân thiết cho đời sống, cho việc học các môn khác, và là cơ sở cho việc tiếp tục học ở trung học. - Tư duy toán học, phương pháp toán học là cẩn thiết cho đời sống, cho học tập. - Môn toán ở tiểu học góp phân làm cho học sinh phát triển toàn diện, hình thành cơ sở của thế giới quan khoa học, xây dựng tình cảm thói quen đức tính tốt đẹp của con người Việt Nam trong giai đoạn mới.
DE gà rất aghitp đa CỬ NHÂN TIỂU HỌC Juang ¢ Thực tế cho thấy muốn giảng dạy môn toán dat hiệu quả cao, tiếp cận với mục đích đã để ra không phải dễ, nhiéu học sinh không hiểu cặn kẽ những diéu đã học, chưa biết cách suy luận để giải toán. Vì vậy trêncơ sở thực hiện nhiệm vụ day học toán ở tiểu học chúng ta cẩn tìm ra con đường, hình thức tổ chức, các phương thức và cách thức làm việc thích hợp để học sinh vận dụng được kiến thức, có khả nănggiải toán và trình bày bài giải mạch lạc, rõ ràng. Chúng tôi muốn nghiên cứu vấn dé: “Hướng dẫn học sinh lớp 4 trường tiểu học sử dụng sơ đổ đoạn thẳng để giải toán”. Tại một số trường tiểu học huyện Hàm Tân nơi tôi đang công tác, tình hình dạy toán cũng còn nhiều hing túng khi sử dụng sơ đổ đoạn thẳng để dạy giải toán lớp 4.
Qua nhiều tiết dy giờ thăm lớp, nhiều anh chị em giáo viên còn hạn chế trong việc hướng dẫn học sinh vẽ sơ đổ đoạn thẳng do đó chất lượng bài học chưa cao, tư duy chưa phát triển, học sinh chưa biết vận dụng kiến thức. Sau khi được học về “Lý luận dạy học môn toán ở trường tiểu hoc” tôi đã nhận thức được nhiều vấn để, qua bài học và thực tế kinh nghiệm đã giúp tôi mạnh dạn đi sâu nghiên cứu để tài này để làm cơ sở cho công tác chỉ đạo chuyên môn day học toán lớp bốn ở các trường Căn cứ vào khả năng nghiên cứu và thời gian cho phép để tài của tôi chỉ giới hạn trong các nhiệm vụ sau: - Nêu một số lý luận có liên quan đến để tài. - Tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng sơ đổ đoạn thẳng trong dạy học toán lớp bốn chương trình cải cách giáo dục. - Tìm hiểu, nghiên cứu những biện pháp cụ thể của giáo viên nhằm đạt hiệu quả trong việc hướng dẫn học sinh sử dụng sơ đổ đoạn thẳng để giải toán lớp bốn.
Dé td tat mghit Cie CỬ NHÂN TIỂU HỌC Teang # | Pa bốn ihe học là giai đoạn cuối của bậc tiểu học, việc dạy va học các môn vừa phải quan tâm đến việc hệ thống hóa, khái quát hóa các nội dung học tập, vừa phải chú ý đáp ứng những nhu cẩu cuộc sống của học sinh để học sinh thích nghỉ vào đời, vào cuộc sống lao động. Lớp bốn là lớp đầu của giai đoạn quan trọng này của bậc tiểu học nên sách giáo khoa Toán 4 được biên soạn để day - học với nội dung sau: - Đọc, viết số có nhiều chữ số. Số tự ñhiên và hệ thập phân - Phân số và tỈ số. - Bốn phép tính với các số tư nhiên.
- Do độ dài, khối lượn thời g, gian, diện tích. - Điểm đoạn thẳng, tủa, đường thẳng, góc, tam giác, tứ giác, hình chữ nhật, hình vuông. Tính chu vi và diện tách hình chữ nhật, hình vuông. - Giải các loại toán: Tìm số trung bình cộng, tìm hai số biết tổng và hiệu, biết tổng (hay hiệu) và tỉ số, toán về đại cương tỉ lệ thuận và nghịch.
Với nội dung trên, môn toán có vị trí đặc biệt vì: 1.1- Toán lớp bốn hệ thống hóa, khái quát hoá và bổ sung các kiến thức kỹ năng về số tự nhiên và bốn phép tính với các số tự nhiên nhầm hoàn thành cơ bản việc học về số học các số tự nhiên ở bậc tiểu học. Vì vậy cuối lớp bốn học sinh đã được ôn tập tổng kết về số học cá số c tự nhiên.2- Toán lớp bốn bổ sung và hệ thống hóa các đơn vị đo đại lượng độ dài, khối lượng, thời gian thành bảng đơn vị đo độ dài từ km đến mm, bảng đơn vị đo khối lượng từ tấn đến gam, bảng đơn vị đo thời gian từ thế kỷ đến giây, làm nổi rõ mối quan hệ giữa các đơn vị liên tiếp đo độ dài, khối lượng với các chữ số liên tiếp trong số đo đại lượng này. Toán lớp bốn giới thiệu vé điện ch, các đơn vị đo điện tích thường đùnlà g mỀ, dm’, cm”, mm?. 13- Toán lớp bốn sử dụng nhiéu hơn các yếu tố đại số trong việc giới thiệu biểu thức, trong mối quan hệ giữa thành phẩn và kết quả của phép tính.4- Toán lớp bốn bổ sung và hệ thống hóa các biểu tượng về các đối tượng hình học, học thêm về hai đường thẳng song song, vuông góc, đặc điểm các cạnh các góc của hình chữ nhật hình vuông và cách tính chu vi, diện tích của các hình này.
Ngoài ra học sinh còn sử sung ê-kc, thước thẳng, thước có vạch chia đến milimét, cọc tiêu, thước dây để kiểm tra nhận đạng về đường thẳng, các hình chữ nhật, hình vuông. trên giấy và trên mặt đất.S- Toán lớp bốn giới thiệu về phân số, cung cấp kiến thức sơ bộ về phân số, phân số bằng nhau, tính chất cơ bản của phân số. thấy mối quan hệ giữa số tự nhiên và phân số. Về tổng thể nội dung sách giáo khoa Toán 4: Tập trung hơn các nội dung hạt nhân là: số học và đại lượng cơ bản, cách sắp xếp này phù hợp khả năng nhận thức của học sinh.
Nội dung hợp lý đảm bảo sự riêng lẻ độc lập trong dạy học giữa các phép tính (chương bốn) nhưng vẫn đảm bảo sự thống nhất và sự hổ trợ giffa các nội dung.1 - Toán lớp bốn tập trung dạy: Day học, viết các số tự nhiên đến lớp triệu và bốn phép tính với các số đó kết hợp với một số kiến thức về hình học và đo đại lượng cụ thể là: - Đọc đúng, viết đúng và so sánh được các số đến lớp triệu. - Biết một số tinh chất của dãy số tự nhiên. - Biết phân số gồm một hoặc nhiều phẩn bằng nhau của đơn vị, đọc và viết các phân số, so sánh phân số với đơn vị và so sách phân số có mẫu số bằng nhau. - Biết tỉ số biểu thị sự so sánh giữa hai đại lượng gấp hoặc kém nhau một số lần.
- Biết rõ ý nghĩa của phép cộng, phép trừ các số tự nhiên biết thêm phép cộng nhiêu số hạng. - Củng cố ý nghĩa của phép nhân, phép chia hai số tự nhiên, biết thêm phép nhân nhiều thừa số. - Nhận biết, tính đúng giá trị của biểu thức chứa tới ba chữ không quá hai đấu phép tính. Hiếu được ý nghĩa khái quát các công thức sử đụng biểu thức chữ như: a+b=b+a, (axb)xc=ax(bxc), a x(b+c)=axbtaxc, P=(a+b)x2;, S=azxb:.
- Củng cố về đại lượng đã học: độ đài, khối lượng, thời gian, thêm biểu tượng về điện tích các hình, nấm được tên, ký hiệu và quan hệ giữa các đơn vị đo mỗi đại lượng trên. - Có biểu tượng về một số đối tượng hình học số học, nấm được một số đặc điểm của các hình đã hoc, Nấm được quy tắc và công thức tính chu vi, tính điện tích của hình chữ nhật, hình vuông. - Biết giải các bài toán hợp không quá ba bước tính vào nội dung thực tế, gần gửi cuộc sống các em, trong đó có loại toán: Tìm số trung bình cộng. Tim hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó.
Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó. Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ của hai số đó. Đại lượng t lệ thuận (nghịch) và bài toán về tỉ lệ thuận (nghịch) - Biết trình bày bài giải đẩy đủ gdm các câu lời giải, các phép tính, đáp số. Có thể viết gộp các phép tính của một bước tính thành của một dãy tính diva vào quy tắc, công thức đã học.2- Rèn luyện kỹ năng kỹ xảo: Dạy học toán ở tiểu học ngoài nhiệm vụ cơ bản là trang bị kiến thức, không chỉ rèn luyện kỷ năng kỷ xảo, vận dụng kiến thức, không chỉ rèn luyện kỷ năng nấm và vận dụng kiến thức mà từng bước hình thành kỷ năng tìm tdi các kiến thức mới đó là kỳ năng sử dụng các thao tác tư duy như quan sát, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa, phân tích, tổng.hợp, suy luận, chứng minh, Nấm chắc và vận dụng thành thạo các thuật toán để thực hiện tốt.
Giải thành thạo các loại toán. Nấm được phương pháp giải các loại toán điển hình và rèn luyện nên nếp, phong cách làm việc, bổi dưỡng phẩm chất và ý chí : cẩn thận, vượt khó, kiên trì, nhẫn nại và ý thức muốn cải tiến, dm tòi cái mới, suy nghĩ độc lập.