CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỂ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về doanh nghiệp a. Khái niệm doanh nghiệp Theo Luật doanh nghiệp năm 2014: Doanh nghiệp là một tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh,1 b.
Phân loại doanh nghiệp Căn cứ vào hình thức tổ chức pháp lý của doanh nghiệp, doanh nghiệp được chia thành: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh và Công ty cổ phần. − Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp chỉ có một chủ sở hữu và chịu trách nhiệm vô hạn đối với tất cả các khoản nợ của doanh nghiệp. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; chủ doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. − Công ty hợp danh: là doanh nghiệp phải có ít nhất hai thành viên hợp danh, ngoài ra có thể có thành viên góp vốn.
Các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. − Công ty trách nhiệm hữu hạn: (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên) là doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. − Công ty cổ phần: là một loại hình doanh nghiệp hình thành, tồn tại và phát triển bởi sự góp vốn của nhiều cổ đông. Các cổ đông của công ty chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vốn góp của họ.
1 Trang 2, giáo trình Tài chính doanh nghiệp, TS. Lê Thị Xuân, NXB Bách Khoa Hà Nội, T8- 2015 5 1. Khái quát về tài chính doanh nghiệp a. Khái niệm tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp là một bộ phận của hệ thống tài chính.
Tài chính doanh nghiệp là một hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá trình tạo lập và phân phối nguồn tài chính và quy tiền tệ, quá trình tạo lập và chu chuyển nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm phục vụ mục đích sản xuất để đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp. Vai trò của tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp và được thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:2 − Tài chính doanh nghiệp huy động vốn đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp diễn ra bình thường và liên tục. − Tài chính doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. − Tài chính doanh nghiệp là công cụ rất hữu ích để kiểm soát tình hình kinh doanh của doanh nghiệp.
KHÁI QUÁT VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP Trong nền kinh tế hội nhập, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển bắt buộc phải có chiến lực kinh doanh hiệu quả, không ngừng nâng cao vị thế cạnh tranh với các đối thủ cùng ngành. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải có nguồn lực đủ mạnh để tận dụng các cơ hội cũng như giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh. Một trong những nguồn lực chính giúp doanh nghiệp khẳng định được lợi thế so sánh của mình đó chính là năng lực tài chính của doanh nghiệp, cụ thể: Thứ nhất, nâng cao năng lực TCDN giúp các DN đáp ứng nhu cầu tối đa hóa lợi nhuận và đạt được mục tiêu tăng trưởng. Một nhu cầu hàng đầu của các doanh nghiệp là có đủ tiềm lực tài chính để sản xuất kinh doanh và mở rộng doanh nghiệp.
Với năng lực tài chính được đánh giá cao, doanh nghiệp khẳng định được uy tín của mình để huy động được nguồn vốn với chi phí thấp từ đó tối đa hóa lợi nhuận. Ngoài ra, việc nâng 2 Trang 9, giáo trình Tài chính doanh nghiệp, PGS. Nguyễn Đình Kiệm, TS. Bạch Đức Hiển, NXB Tài Chính.
6 cao năng lực tài chính sẽ giúp doanh nghiệp ứng phó tốt với các rủi ro có thể xảy đến bất cứ lúc nào như: mất khả năng thanh khoản, mất cân đối nguồn vốn… Thứ hai, sức mạnh tài chính giúp doanh nghiệp tồn tại khi có khủng hoảng kinh tế. Trong tình hình kinh tế tài chính có xu hướng biến động không ngừng như hiện nay, các doanh nghiệp phải tập cách thích ứng và tìm ra giải pháp để vượt qua khó khăn. Các thử thách mà doanh nghiệp cần phải giải quyết hiện giờ có thể kể đến mức lạm phát tăng nhanh, sức cạnh tranh của các đối thủ cùng ngành, khan hiếm nguồn hàng và nhu cầu tiêu dùng giảm… Từ những yêu cầu đang đặt ra, các doanh nghiệp cần tìm ra giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao năng lực tài chính của mình để có thể thích ứng với các cuộc khủng hoảng kinh tế có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Thứ ba, với nguồn tài chính vững mạnh, doanh nghiệp có thể phát triển trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
Nền kinh tế Việt Nam đang có nhiều bước chuyển mình mạnh mẽ trong “nền kinh tế hội nhập”. Việc hàng hóa nước ngoài được nhập khẩu vào Việt Nam với giá rẻ, chất lượng tốt đi kèm tâm lý ưa dùng hàng ngoại của người tiêu dùng, các doanh nghiệp trong nước đang gặp nhiều khó khăn trong việc tăng thị phần. Để giải quyết những khó khăn trước mắt, các doanh nghiệp Việt Nam cần có năng lực tài chính đủ mạnh và xây dựng uy tín của mình trong mắt người tiêu dùng. Chỉ khi nâng cao được năng lực tài chính để cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài cũng như đối thủ cạnh tranh cùng ngành thì doanh nghiệp đó mới có thể có vị trí vững vàng và chiếm lĩnh thị phần trong lĩnh vực mà mình đang kinh doanh.
CÁC TỶ SỐ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Tỷ số hoạt động của tài sản a. Hệ số năng lực hoạt động của tài sản ngắn hạn Vòng quay các khoản phải thu và kỳ thu tiền trung bình3 Vòng quay các khoản phải thu thể hiện mỗi quan hệ giữa doanh thu bán hàng với các khoản phải thu của doanh nghiệp và được xác định như sau: DTT về bán hàng và cung cấp dịch vụ Vòng quay các khoản phải thu = Các khoản phải thu bình quân Vòng quay các khoản phải thu đo lường mức độ đầu tư vào các khoản phải thu 3 Trang 110, giáo trình Phân tích tài chính doanh nghiệp, TS. Lê Thị Xuân, NXB Trường đại học Kinh Tế Quốc Dân 7 để duy trì mức doanh số bán hàng cần thiết cho doanh nghiệp, qua đó có thể đánh gái hiệu quả của một chính sách tín dụng của doanh nghiệp.
Thông thường, vòng quay các khoản phải thu cao nói lên rằng doanh nghiệp đang quản lý các khoản phải thu hiệu quả, vốn đầu tư cho các khoản phải thu ít hơn. Tuy nhiên, có trường hợp vòng quay các khoản phải thu cao lại cho thấy sự không hiệu quả trong khâu bán hàng do doanh nghiệp thực chất thực hiện chính sách thắt chặt tín dụng. Một chỉ tiêu ngược của vòng quay các khoản phải thu là kỳ thu tiền trung bình. Chỉ tiêu vày cho biết khoảng thời gian trung bình từ khi doanh nghiệp xuất hàng đến khi doanh nghiệp thu được tiền về.
Số ngày trong kỳ phân tích Kỳ thu tiền trung bình = 𝑉ò𝑛𝑔 𝑞𝑢𝑎𝑦 𝑐á𝑐 𝑘ℎ𝑜ả𝑛 𝑝ℎả𝑖 𝑡ℎ𝑢 Trong đó, “Số ngày trong kỳ phân tích” được xác định thường là 90 ngày hoặc 365 ngày nếu kỳ phân tích là 1 quý hay 1 năm. Vòng quay hàng tồn kho và số ngày của một vòng quay hàng tồn kho4 Vòng quay hàng tồn kho phản ánh số lần trung bình hàng tồn kho luân chuyển trong một kỳ và được xác định bằng: Giá vốn hàng bán Vòng quay hàng tồn kho = Hàng tồn kho bình quân Muốn biết số ngày của một vòng quay hàng tồn kho có thể xác định bằng công thức: Số ngày trong kỳ phân tích Số ngày 1 vòng quay hàng tồn kho = Vòng quay hàng tồn kho Hệ số này được sử dụng để đánh giá hiệu quả quản trị hàng tồn kho của doanh nghiệp. Thông thường so với kỳ trước, vòng quay hàng tồn kho giảm hay số ngày một vòng quay hàng tồn kho tăng cho thấy thời gian hàng tồn kho còn tồn tại trong kho dài hơn, hay hàng tồn kho luân chuyển chậm, vốn ứ đọng nhiều hơn kéo theo nhu cầu vốn của doanh nghiệp tăng (trong điều kiện quy mô sản xuất không đổi). Tuy nhiên, có trường hợp vòng quay hàng tồn kho tăng có thể là do kết quả của việc tăng dự trữ nhằm đáp ứng các nghĩa vụ hợp đồng, nhu cầu mùa vụ hay là kết quả của một sự dự đoán xu hướng cầu tăng trong tương lai.
4 Trang 111, giáo trình Phân tích tài chính doanh nghiệp, TS. Lê Thị Xuân, NXB Trường đại học Kinh Tế Quốc Dân 8 b. Hệ số năng lực hoạt động của tài sản dài hạn5 Hiệu suất sử dụng tài sản cố định DTT về bán hàng và cung cấp dịch vụ Hiệu suất sử dụng TSCĐ = TSCĐ bình quân Hiệu suất sử dụng TSCĐ cho biết cứ một đồng tài sản cố định đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Sử dụng hiệu suất sử dụng TSCĐ đo lường hiệu quả quản trị bộ phận TSDH quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp.
Thông thường một doanh nghiệp có hiệu suất sử dụng TSCĐ giảm thể hiện công tác quản lý TSCĐ chưa tốt. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản DT và TN khác Hiệu suất sử dụng tổng TS = Tổng TS bình quân Hiệu suất sử dụng tổng TS đo lường tổng quát về năng lực hoạt động của tài sản trong doanh nghiệp, thể hiện mối quan hệ giữa tổng doanh thu và thu nhập khác trong doanh nghiệp (bao gồm cả doanh thu thuần, doanh thu hoạt động tài chính và thu nhập khác) với tổng tài sản hiện có của doanh nghiệp. Hệ số này càng cao thường được đánh giá hiệu quả HĐKD của doanh nghiệp càng lớn, điều đó có nghĩa là cần ít tài sản hơn để suy trì mức độ của HĐKD mà doanh nghiệp đã đặt ra (doanh thu). Xu hướng của các hệ số này theo thời gian và việc so sánh với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành có thể chỉ đưa ra những hiệu quả hoặc cơ hội tiềm năng của doanh nghiệp.