CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY ĐỐI HỘ NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỘ NGHÈO TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI Cho vay hộ nghèo là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN, ổn định xã hội. Hiện nay đã có nhiều bài công trình nghiên cứu về đói nghèo và nguyên nhân của đói nghèo. Nguyễn Trung Tăng (2002) hay Ngô Văn Lệ (2010) đã chỉ ra rằng đói nghèo có nguyên nhân nhưng chủ yếu và cơ bản là do thiếu vốn, thiếu kiến thức làm ăn.
Vốn kỹ thuật và kiến thức làm ăn là chìa khóa để người nghèo vượt khỏi ngưỡng nghèo đói. Do không đáp ứng đủ vốn, nhiều người rơi vào tình thế luẩn quẩn làm không đủ ăn, phải đi làm thuê, vay nặng lãi, bán lúa non, cầm cố ruộng đất mong đảm bảo được cuộc sống tối thiểu hàng ngày, nhưng nguy cơ nghèo đói vẫn thường xuyên đe dọa họ. Mặt khác do thiếu kiến thức làm ăn nên họ chậm đổi mới tư duy làm ăn, bảo thủ với phương thức làm ăn cũ cổ truyền, không áp dụng kỹ thuật mới để tăng năng suất lao động làm cho sản phẩm sản xuất ra kém hiệu quả. Thiếu kiến thức và kỹ thuật làm ăn là một cản lực lớn nhất hạn chế tăng thu nhập và cải thiện đời sống hộ gia đình nghèo.
Giải quyết được vốn cho người nghèo có tác động hiệu quả thiết thực. Nghiêm Hồng Sơn (2006), Nguyễn Thị Hoa và cộng sự (2009) hay Nguyễn Thị Hải Yến (2008) đã cho thấy cho vay hộ nghèo đã mang lại nhiều thuận lợi như: - Là động lực giúp hộ nghèo vươn lên thoát nghèo. - Tạo điều kiện cho hộ nghèo không phải vay nặng lãi, có vốn vay từ NHCSXH để phát triển kinh tế. - Giúp hộ nghèo nâng cao kiến thức tiếp cận với thị trường, có điều kiện hoạt động SXKD trong nền kinh tế thị trường.
- Góp phần trực tiếp vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông 4 thôn, thực hiện việc phân công lại lao động xã hội. - Cung ứng vốn cho hộ nghèo góp phần xây dựng nông thôn mới. NHCSXH đóng một vai trò quan trọng trong nền KTXH, góp phần XĐGN thực hiện an sinh xã hội, tăng trưởng kinh tế gắn liền với công bằng xã hội; đồng thời sự phân hoá giàu nghèo dần được xoá bỏ,… sẽ đảm bảo sự phát triển bền vững. Với những vai trò và ý nghĩa đó, cho vay hộ nghèo và đối tượng chính sách thông qua NHCSXH cần được quan tâm và mở rộng hơn nữa nhằm tăng cường năng lực chung cho sự phát triển bền vững của nền KTXH.
Tuy nhiên hiện nay, hoạt động cho vay của NHCSXH vẫn còn tồn tại nhiều mặt hạn chế cần phải tiếp tục xem xét và đưa ra hướng giải quyết phù hợp. Chính vì vậy đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về cho vay tại NHCSXH như: Hà Thị Hạnh (2003) đã cho thấy cái nhìn tổng quan về mô hình tổ chức cũng như cơ chế hoạt động của NHCSXH. Tác giả luận án đã tập trung nghiên cứu và chỉ ra các mô hình tổ chức hoạt động phù hợp tại Việt Nam dựa trên cơ sở tham khảo và học hỏi kinh nghiệm của một số quốc gia có mô hình Ngân hàng giống Việt Nam. Nhưng bởi sự khác nhau trong đặc thù chính trị và bộ máy quản lý Nhà nước nên tác giả đã nghiên cứu và hoàn thiện mô hình tổ chức bắt nguồn từ mô hình Ngân hàng phục vụ người nghèo trước kia để mở rộng qui mô hơn nữa nhằm đáp ứng phục vụ nhân dân một cách tốt hơn.
Nguyễn Phượng Lê và các cộng sự (2001) nghiên cứu về khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức của Hộ nông dân ngoại thành Hà Nội. Nghiên cứu sử dụng các thông tin thứ cấp cùng các thông tin sơ cấp thu thập được từ việc lấy ý kiến, khảo sát, phỏng vấn hơn 60 Hộ nông dân dựa trên bảng hỏi có sẵn. Các thông tin được phân tích và đánh giá qua phương pháp thống kê, mô tả và so sánh dựa trên các chỉ tiêu chính như: tỷ lệ hộ được vay vốn từ tín dụng chính thức trong tổng số các hộ trong diện điều tra, tỷ lệ hộ có nhu cầu và thường xuyên vay vốn,… Bằng việc sử dụng phương pháp nghiên cứu này, nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Thông qua các Ngân hàng Nhà nước, hệ thống tín dụng chính thức ở Nông thôn đã đem đến những đóng góp lớn lao trong việc cung cấp vốn cho việc phát triển kinh tế các hộ gia đình. Thông qua kết quả nghiên cứu, các hộ phần lớn đã tiếp cận được với 5 nguồn vốn tín dụng chính thức một cách trực tiếp hay gián tiếp thông qua các tổ chức xã hội như: Hội Nông dân, Hội Phụ nữ,… Tuy nhiên, mức độ tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức của các hộ còn thấp và việc nắm bắt thông tin một cách rõ ràng cụ thể về các tổ chức tín dụng chính thức còn nhiều hạn chế và khó khăn.
Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức của các hộ bao gồm trình độ văn hoá, điều kiện kinh tế của hộ, giới tính chủ hộ, thủ tục lãi suất cho vay, thời gian vay vốn và lượng vốn vay của các tổ chức tín dụng chính thức. Bên cạnh những yếu tố trên, thái độ và sự nhiệt tình của cán bộ tín dụng cũng được xem là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của hộ. Do vậy, để tăng cường sự tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức của các hộ cần phải có giải pháp nhằm nâng cao trình độ của chủ hộ, đặc biệt là khả năng tiếp cận tiến bộ kỹ thuật và kỹ năng sản xuất từ đó họ mới có phương thức làm ăn và mới dám vay vốn để phát triển SXKD. Ngoài ra, các giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng chính thức với các tổ chức đoàn thể xã hội ở nông thôn để nông dân có thể tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức thông qua hình thức tín chấp.
Nguyễn Trung Tăng (2002) sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tập trung khảo cứu, điều tra, thống kê và phân tích hoạt động của Ngân hàng như: hoạt động huy động nguồn vốn, cho vay vốn để làm sáng tỏ những luận cứ khoa học về cung ứng vốn tín dụng và sử dụng tốt các quỹ để thực hiện XĐGN, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghiên cứu tập trung về tín dụng cho người nghèo trong thời kỳ hoạt động của Ngân hàng Phục vụ người nghèo trên các phương diện: tính chất, đối tượng phục vụ, phương thức cho vay và huy động vốn, thu hồi vốn,… Nghiên cứu cho thấy nếu chỉ riêng việc cung ứng tín dụng Ngân hàng cho người nghèo một cách đơn độc thì hiệu quả tín dụng sẽ rất thấp, thậm chí không có hiệu quả, do đó cần phải phối hợp hoạt động của Ngân hàng người nghèo với các quỹ XĐGN và các chương trình XĐGN khác nữa mới có thể thực hiện tốt nhiệm vụ XĐGN. Song cả về mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Ngân hàng người nghèo, các quỹ tín dụng nhân dân và các quỹ XĐGN vẫn còn những nhược điểm như: về phương 6 thức cho vay còn gặp nhiều trở ngại, mức phân loại hộ nghèo chưa phù hợp, hiệu quả của vốn vay bị hạn chế, chưa có nguồn bù đắp những rủi ro khi cho vay,… Tất cả cần tiếp tục cải tiến và hoàn thiện để nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc cung ứng vốn cho người nghèo. Đỗ Tất Ngọc (2002) khẳng định sự tồn tại khách quan và vai trò quan trọng của hoạt động cho vay chính sách trong nền kinh tế thị trường.
Bằng lý luận và qua kinh nghiệm một số nước, tác giả đã nhận xét ở Việt Nam giai đoạn năm 2002 và các năm tiếp theo cần phát triển hoạt động cho vay chính sách. Nghiên cứu phân tích làm rõ thực trạng Ngân hàng phục vụ người nghèo và hoạt động cho vay chính sách ở Việt Nam tại một số NHTM Nhà nước. Từ đó đã nêu những hạn chế bất cập vướng mắc trong hoạt động này, đòi hỏi phải có những đổi mới. Bên cạnh đó, nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp về mô hình Ngân hàng Chính sách và cơ chế hoạt động cho vay chính sách như: ban hành luật hoặc pháp lệnh về Ngân hàng chính sách và cho vay chính sách, kêu gọi Chính phủ ra quyết định yêu cầu các Bộ, Ban ngành, chính quyền các cấp ủng hộ, hỗ trợ cần thiết cho Ngân hàng Chính sách,… nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này và các kiến nghị chính sách vĩ mô nhằm tạo điều kiện cho thực thi các giải pháp.
Nguyễn Dân Hùng (2015) thông qua sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung, phương pháp thu thập và xử lý thông tin thông qua nguồn số liệu sơ cấp và thứ cấp, phương pháp so sánh số tương đối số tuyệt đối, phương pháp chứng minh, phương pháp thống kê kinh tế đã chỉ ra rằng PGD NHCSXG Krông Năng đã giúp các hộ nghèo và các đối tượng chính sách tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi một cách nhanh chóng và thuận lợi; được phổ biến kiến thức, kinh nghiệm chăn nuôi, trồng trọt phát triển kinh tế gia đình từ các tổ chức đoàn thể. Chính vì vậy, đời sống vật chất và tinh thần của bà con, nhất là đồng bào các dân tộc từng bước được nâng cao. Với sự phối kết hợp chặt chẽ giữa NHCSXH, các tổ chức nhận uỷ thác cho vay và Tổ TK&VV trong việc kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn cũng như sử dụng vốn vay đúng mục đích, có phương án SXKD đạt hiệu quả, định kỳ hàng quý các hộ vay trả lãi đầy đủ cho Ngân hàng, đồng thời góp phần tăng nguồn vốn huy động của chi nhánh một cách ổn định. Đặc biệt là nông dân nghèo rất phấn khởi và ngày càng 7 tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
Vốn cho vay của PGD NHCSXH huyện Krông Năng đã góp phần đáng kể vào thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống của các hộ gia đình, hộ vay vươn lên có mức sống khá và làm giàu chính đáng.