Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Tìm hiểu tình hình sản xuất và chế biến các sản phẩm từ dừa ở Bến Tre" do sinh viên Đoàn Thị Kiều Giang thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. Phạm Xuân Hậu tại Khoa Địa lý, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (niên khóa 2001 - 2005). Nghiên cứu thuộc chuyên ngành Địa lý Kinh tế - Xã hội, tập trung giải quyết bài toán phát triển ngành dừa trong mối liên hệ hữu cơ giữa điều kiện tự nhiên, tiềm năng kinh tế và tổ chức lãnh thổ sản xuất.

Về bối cảnh thực tiễn, cây dừa (Cocos nucifera) là cây công nghiệp đa niên lấy dầu truyền thống có ý nghĩa kinh tế - xã hội và sinh thái lớn tại các nước nhiệt đới. Cây dừa được xem là "cây của 1001 công dụng" do tất cả các bộ phận từ rễ, thân, lá, nước, gáo, cùi và xơ dừa đều có thể khai thác thành các sản phẩm tiêu dùng và xuất khẩu giá trị cao (cơm dừa nạo sấy, sữa dừa, than hoạt tính, chỉ xơ dừa, lưới xơ dừa). Về sinh thái, trong bối cảnh tài nguyên nước ngọt thượng nguồn suy giảm và hiện tượng xâm nhập mặn, nhiễm phèn, khô hạn, lũ lụt diễn biến phức tạp tại Đồng bằng sông Cửu Long gây tổn hại lớn cho lúa và cây ăn quả, cây dừa vẫn chứng tỏ khả năng thích nghi bền vững. Mô hình vườn dừa kết hợp đa tầng (trồng xen chuối, cam, quýt, ca cao, tiêu; nuôi xen tôm, cá, ong mật) tạo ra hệ sinh thái nông nghiệp cho thu hoạch nhiều vụ trong năm, gia tăng thu nhập và giải quyết việc làm cho lao động nông nhàn. Tại Bến Tre – nơi cây dừa gắn liền với lịch sử đấu tranh, văn hóa truyền thống và trở thành biểu tượng của địa phương – việc nghiên cứu toàn diện ngành dừa có ý nghĩa thiết thực đối với đời sống cư dân bản địa.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm 02 nội dung chính:

  1. Đánh giá những điều kiện thuận lợi và khó khăn đối với sự phát triển ngành dừa tại tỉnh Bến Tre.
  2. Tìm hiểu và đánh giá hiện trạng trồng, chế biến các sản phẩm từ dừa; từ đó phân tích khả năng và định hướng phát triển của ngành trong tương lai.

Để đạt được mục tiêu trên, tác giả xác định 10 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tìm hiểu về đặc điểm sinh thái của cây dừa (cạn).
  2. Tìm hiểu về tình hình trồng, chế biến dừa trên thế giới và ở Việt Nam.
  3. Tìm hiểu và đánh giá những điều kiện về tự nhiên, kinh tế - xã hội của Bến Tre có ảnh hưởng đến sự phát triển ngành dừa.
  4. Nghiên cứu hiện trạng trồng dừa từ các số liệu, tài liệu ở Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
  5. Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng ngành chế biến các sản phẩm từ dừa ở Bến Tre cũng như thị trường tiêu thụ.
  6. Phân tích, đưa ra định hướng và giải pháp phát triển ngành dừa trong tương lai.
  7. Trực tiếp tham quan, tìm hiểu, chụp hình các cơ sở, doanh nghiệp chế biến dừa tiêu biểu ở trong tỉnh.
  8. Lập phiếu thăm dò ý kiến của các hộ trồng dừa trên địa bàn huyện Giồng Trôm.
  9. Tham khảo ý kiến các kỹ sư, chuyên gia nghiên cứu về ngành dừa ở Bến Tre.
  10. Sưu tập các bài báo, chương trình phát thanh, truyền hình có liên quan đến ngành dừa ở Bến Tre.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tình hình sản xuất (trồng trọt) nông nghiệp và công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chế biến các sản phẩm từ dừa.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ lãnh thổ hành chính tỉnh Bến Tre (gồm 3 dãy cù lao: cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa cùng các huyện thị trực thuộc).
  • Phạm vi thời gian: Tập trung phân tích chuỗi số liệu biến động trong giai đoạn 1995 - 2004.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý luận địa lý kinh tế - xã hội và các định hướng chiến lược phát triển nông nghiệp của Nhà nước:

  • Khung văn bản định hướng: Nghị quyết 09 của Chính phủ về chủ trương phát triển mạnh cây có dầu để đạt sản lượng 400.000 - 500.000 tấn dầu/năm (trong đó dừa cung cấp 60% nguồn dầu); Chiến lược phát triển của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn định hướng cây dừa là 1 trong 10 cây trồng xuất khẩu chủ đạo của cả nước đến năm 2010.
  • Ba quan điểm phương pháp luận địa lý chủ đạo:
    1. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ: Nghiên cứu sự phát triển ngành sản xuất và chế biến dừa trong mối liên hệ qua lại hữu cơ giữa các nhân tố Tự nhiên - Kinh tế - Xã hội tại địa phương.
    2. Quan điểm hệ thống: Đặt tỉnh Bến Tre ở vị trí phân vị trung gian (dưới là các huyện, xã; trên là Đồng bằng sông Cửu Long, Nam Bộ, cả nước và thế giới); đồng thời xem ngành trồng dừa là bộ phận của nông nghiệp, chế biến dừa là bộ phận của công nghiệp chế biến và tiểu thủ công nghiệp.
    3. Quan điểm lịch sử - viễn cảnh: Phân tích quá trình phát triển và hiện trạng theo thời gian để đưa ra các nhận định, dự báo phát triển có căn cứ khoa học cho tương lai.

Phương pháp nghiên cứu thực tế kết hợp hai nhóm:

  • Nhóm phương pháp thực địa:
    • Khảo sát thực tế, quan sát và chụp ảnh tại các cơ sở chế biến dừa tiêu biểu trong tỉnh.
    • Phỏng vấn trực tiếp chuyên gia, kỹ sư nông nghiệp và cán bộ quản lý ngành dừa.
    • Tham dự hội thảo khoa học chuyên đề về phát triển sản xuất - chế biến dừa và mía trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
    • Điều tra xã hội học bằng phiếu thăm dò ý kiến nông dân trồng dừa tại địa bàn huyện Giồng Trôm.
  • Nhóm phương pháp trong phòng:
    • Phương pháp thu thập, thống kê và phân loại tài liệu.
    • Phương pháp tổng hợp, so sánh và phân tích địa lý kinh tế.
    • Phương pháp bản đồ - biểu đồ: Xây dựng bản đồ chuyên đề và chuyển đổi dữ liệu thành các dạng biểu đồ cột, biểu đồ đường, biểu đồ tròn minh họa trực quan.
    • Phương pháp dự báo xu hướng phát triển ngành hàng.

Nguồn dữ liệu sử dụng:

  • Dữ liệu thứ cấp chính thống từ các sở ban ngành tỉnh Bến Tre: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công nghiệp, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường, Sở Thương mại và Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thống kê Bến Tre, Chi cục Bảo vệ Thực vật Bến Tre, Trung tâm Thực nghiệm Dừa Đồng Gò, Đài Phát thanh và Truyền hình Bến Tre.
  • Tài liệu từ cơ quan Trung ương và các tổ chức chuyên môn: Bộ Công nghiệp, Viện Nghiên cứu Dầu thực vật Việt Nam, Tổng công ty Dầu thực vật - Hương liệu - Mỹ phẩm Việt Nam (Vocarimex), Hiệp hội Dừa Châu Á - Thái Bình Dương (APCC).
  • Khóa luận kế thừa: Đề tài "Bước đầu tìm hiểu về tình hình sản xuất và chế biến dừa tỉnh Bến Tre" của sinh viên Nguyễn Thị Thanh Trúc (K26, ĐH Sư phạm TP.HCM).
  • Dữ liệu thực tế tại các đơn vị sản xuất - kinh doanh: Công ty Xuất nhập khẩu Bến Tre, Công ty Xuất nhập khẩu Trúc Giang, Doanh nghiệp tư nhân Trường Ngân, Huỳnh Thành, cơ sở kẹo dừa Thanh Long.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở lí luận chung

Chương này trình bày toàn diện về cơ sở sinh học nông nghiệp của cây dừa, phân loại giống và bức tranh tổng quan về ngành dừa trên thế giới và tại Việt Nam.

Cây dừa cạn thuộc lớp Đơn tử diệp, mang buồng hoa đơn phái đồng chu. Bộ rễ dừa không có rễ trụ mà là hệ thống rễ chằng chịt phát sinh từ bầu rễ, ăn ngang trong bán kính 2 m và phân bố ở tầng đất nông từ 30 - 60 cm. Cây dừa già có từ 4.000 - 7.000 rễ chính (dài 5 - 10 m, đường kính 8 - 10 mm). Rễ chính tạo rễ cấp 2, rồi phân nhánh ra rễ cấp 3 (rễ con); rễ con là cơ quan hấp thụ nước và dinh dưỡng nhờ cấu tạo vách tế bào mềm cách chóp rễ 5 cm (rễ dừa không có lông hút). Rễ có các nốt phế căn làm nhiệm vụ trao đổi khí. Do rễ ăn nông và tập trung trong bán kính 2 m, cây dễ bị trốc gốc khi có bão trên đất cát; trong canh tác cần bón phân và làm sạch cỏ trong phạm vi bán kính 2 m, cày bừa cách gốc tối thiểu 2 m. Thân dừa không có mô thứ cấp, tăng trưởng mạnh thời gian đầu và chững lại sau 25 năm. Lá dừa phản ánh tình trạng dinh dưỡng (thiếu kali lá chét vàng từ ngoài vào, thiếu bor lá bị dị dạng). Quá trình nở hoa có hiện tượng rụng quả non sinh lý từ 50 - 70% sau 6 - 8 tuần thụ phấn (theo tác giả Patel); hiện tượng nứt rụng quả lớn thường do nấm Phytophthora palmarum hoặc do khô hạn kéo dài rồi gặp mưa nhiều làm tăng áp suất thẩm thấu của tế bào (theo Bénard). Quả dừa gồm vỏ ngoài, vỏ giữa (xơ), nội quả bì cứng (gáo dừa), tâm bì, cơm dừa (dày 1 - 2 cm chứa dầu và protein) và nước dừa chiếm 3/4 thể tích gáo.

Về điều kiện sinh thái: Cây dừa phân bố tập trung từ 15° vĩ Bắc đến 15° vĩ Nam, độ cao dưới 600 m so với mực nước biển; nhiệt độ trung bình năm thích hợp từ 24 - 25°C (biên độ nhiệt năm < 5°C, giới hạn 20 - 34°C); lượng mưa thích hợp 1.800 - 2.000 mm/năm (tối thiểu 1.500 mm); độ ẩm không khí 80 - 90%; thời gian chiếu sáng tối thiểu 1.800 giờ/năm; đất thoát nước tốt độ sâu tối thiểu 100 cm, pH thích hợp từ 5 - 8, mực thủy cấp dao động 2 - 4 m, thích ứng tốt với nước lợ có nồng độ muối từ 5‰ - 10‰.

Tiêu chí phân biệt Nhóm dừa cao Nhóm dừa lùn
Phương thức thụ phấn Thụ phấn chéo (giao phấn) Tự thụ phấn
Thời gian ra hoa, có quả Ra hoa muộn (5 - 7 năm nếu có tưới; 7 - 10 năm nếu không tưới) Ra hoa sớm, cho quả sớm
Số lượng và kích thước quả Số quả ít, kích thước quả lớn Số quả nhiều, kích thước quả nhỏ
Hàm lượng dầu Hàm lượng dầu cao (> 60%) Hàm lượng dầu thấp (< 60%)
Giống tiêu biểu tại Việt Nam Ta xanh, Ta vàng, Dâu vàng, Dâu xanh, dừa Lửa, dừa Giấy; giống quý: Bung, Sáp; nhập nội: Cao Tây Phi, Cao Hijo, San Ramon Eo, Xiêm lùn, Xiêm đỏ, Tam quan; giống quý: Dứa, Sọc; nhập nội: Lùn xanh/vàng/đỏ Mã Lai, Lùn vàng Ghana, Lùn xanh Guine

Ngoài ra, thế giới có khoảng 400 tổ hợp dừa lai; các giống dừa lai phổ biến tại Việt Nam gồm PB111 (Mawa), PB121, PB132, PB141, JVA1, JVA2, CRIC-65. Năng suất bình quân giống nội địa Việt Nam chỉ đạt 35 - 40 quả/cây/năm, trong khi tiềm năng đạt 80 - 90 quả/cây/năm và dừa lai thế giới đạt 150 - 180 quả/cây/năm.

Về tình hình thế giới, dừa được trồng tại 86 quốc gia với tổng diện tích 11,6 triệu ha. Các nước thành viên Hiệp hội Dừa Châu Á - Thái Bình Dương (APCC, gồm 15 quốc gia) chiếm 93% diện tích toàn cầu. Indonesia dẫn đầu với khoảng 3,7 triệu ha (chiếm 28%), Philippines 3,1 triệu ha (22%), Ấn Độ 632.000 ha (17%), Sri Lanka (4%), Thái Lan (2%). Sản lượng dừa toàn cầu tăng bình quân 2%/năm giai đoạn 1991 - 2003, tuy nhiên tốc độ tăng chậm dần sau năm 1995 do dịch bệnh và diện tích suy giảm. Năng suất copra và dầu dừa còn thấp, đạt bình quân 0,8 - 1 tấn dầu/ha/năm (giống lai đạt 3 tấn dầu/ha/năm), thấp hơn nhiều so với cọ dầu (4 tấn dầu/ha/năm). Mô hình trồng xen ca cao, măng cụt hoặc nuôi bò, thủy sản giúp tăng hiệu quả kinh tế gấp 0,5 - 5 lần so với độc canh (thí nghiệm tại Kasaragod - Ấn Độ cho thấy thu nhập tăng 400%). Thế giới đã chế biến trên 30 mặt hàng từ dừa; các thị trường tiêu thụ chính gồm EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Úc. Xuất khẩu copra giảm, trong khi các sản phẩm xơ dừa và than hoạt tính tăng trưởng liên tục.

Tại Việt Nam, năm 1991 diện tích dừa đạt 333.000 ha, đến năm 2000 giảm xuống còn 172.000 ha do nông dân phá dừa trồng cây ăn quả (cam, quýt, nhãn) khi giá dừa bấp bênh; đến năm 2003 phục hồi lên khoảng 220.000 ha. Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 69,1% diện tích cả nước, sản lượng đạt đỉnh năm 1995 với 132.800 tấn quy dầu. Quy mô canh tác rất manh mún: 60% diện tích thuộc các hộ quy mô dưới 0,5 ha, 30% thuộc hợp tác xã, 10% thuộc nông trường quốc doanh; khoảng 10% diện tích dừa bị lão hóa. Dịch bọ dừa (Brontispa longissima) phát hiện lần đầu năm 1999 tại Sa Đéc (Đồng Tháp), đến tháng 8/2001 lan rộng 21 tỉnh thành; tính đến ngày 8/12/2002 có 9.034.000 cây bị hại (chiếm 40% tổng số cây, nặng nhất tại Phú Yên và Khánh Hòa với tỷ lệ hại 71 - 90%). Đầu năm 2004, việc nhập nội và phóng thích thử nghiệm ong ký sinh từ Indonesia tại Giồng Trôm và thị xã Bến Tre đã phục hồi hơn 90% vườn dừa bị hại. Trong chế biến, 90% sản lượng dừa trái dùng sản xuất copra và 50% copra dùng ép dầu tại các nhà máy lớn ở TP.HCM (Vocarimex, Tân Bình, Thủ Đức, Golden Hope Nhà Bè).

Chương II: Tinh hình sản xuất và chế biến các sản phẩm từ dừa Bến Tre

Chương II phân tích chi tiết các điều kiện địa lý tự nhiên, nhân văn và thực trạng phát triển sản xuất - chế biến dừa trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Tỉnh Bến Tre được thành lập năm 1900, diện tích tự nhiên 2.315 km², hợp thành từ 3 dãy cù lao: Cù lao An Hóa, cù lao Bảo và cù lao Minh; giới hạn tọa độ từ 9°48'B đến 10°20'B và 105°57'Đ đến 106°48'Đ. Bờ biển dài 65 km. Nền địa chất hình thành muộn từ quá trình bồi tụ phù sa cách đây 4.500 năm, nền móng yếu làm tăng chi phí xây dựng công trình và nhà xưởng. Địa hình bằng phẳng (độ cao trung bình 2 - 4 m). Khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo: nhiệt độ trung bình năm 26 - 27°C, lượng bức xạ 160 kcal/cm², lượng mưa trung bình 1.250 - 1.500 mm/năm (phân hóa thành mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau; mùa khô lượng mưa chỉ chiếm 1,5% - 6% tổng lượng cả năm). Hệ thống sông ngòi có tổng chiều dài xấp xỉ 6.000 km gồm các nhánh sông lớn: Tiền, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, vận chuyển khoảng 25 triệu tấn bùn cát/năm. Nguồn nước ngầm tầng nông (dưới 100 m) thuộc phức hệ Pleistocen trữ lượng thấp và dễ nhiễm phèn mặn vào mùa khô; chế độ bán nhật triều biển Đông đưa nước mặn xâm nhập sâu vào nội đồng trên 1/3 diện tích. Tài nguyên đất đai gồm 4 nhóm chính:

Nhóm đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Địa bàn phân bố chủ yếu
Đất phù sa 149.000 66,90% Chợ Lách, Châu Thành, bắc Giồng Trôm, bắc Mỏ Cày
Đất mặn 96.000 ~40% diện tích ven biển Các huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú
Đất cát giồng 14.248 6,40% Phân bố rải rác khắp các huyện trong tỉnh
Đất phèn 15.127 6,74% Rải rác từ vùng ngọt đến vùng lợ, mặn

Về nhân văn và cơ sở hạ tầng: Dân số tỉnh năm 2000 là 1.610.000 người, mật độ 574 người/km²; dân số trong độ tuổi lao động đạt 697.233 người (chiếm 53,4%), tỷ lệ thất nghiệp 6%, tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 12%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2000 đạt 353 USD/năm (xếp thứ 9/12 tỉnh ĐBSCL). Về hạ tầng, 100% xã đã phủ lưới điện quốc gia; đường giao thông liên xã đã trải nhựa và thay thế dần cầu khỉ bằng cầu bê tông; tuy nhiên giao thông đối ngoại đường bộ còn cách trở do địa hình sông rạch chia cắt ("gần nhà xa ngõ"). Mạng lưới thương mại nội tỉnh có 12 công ty TNHH, 3 hợp tác xã, 162 doanh nghiệp tư nhân, 13.350 hộ kinh doanh với 113 cửa hàng và 808 đại lý. Tỉnh có Trung tâm Thực nghiệm Dừa Đồng Gò làm nhiệm vụ nghiên cứu, nhân giống.

Cây dừa giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu nông nghiệp Bến Tre, chiếm khoảng 18% tổng diện tích đất nông nghiệp (năm 2003 diện tích dừa đạt 35.018 ha trên tổng số 74.777 ha cây công nghiệp và cây ăn quả). Toàn tỉnh có 82,1% hộ gia đình làm nghề trồng trọt; thu nhập bình quân từ trồng trọt đạt 4,03 triệu đồng/hộ/năm, trong đó cây dừa đóng góp 28% tỷ trọng thu nhập (vượt cây ăn trái 26,3% và chỉ đứng sau lúa 31,5%). Thu nhập từ dừa tập trung cao nhất ở nhóm huyện Giồng Trôm, Mỏ Cày, thị xã Bến Tre; thấp nhất ở Ba Tri và Thạnh Phú. Sau năm 1975, phong trào "dừa lấn rừng - rừng lấn biển" từng đưa diện tích dừa Bến Tre lên hơn 45.000 ha, nhưng giai đoạn 1990 - 1995 diện tích giảm mạnh do chuyển đổi cơ cấu cây trồng và giá cả bấp bênh trước khi phục hồi dần. Ngành chế biến hình thành các sản phẩm truyền thống và hiện đại: kẹo dừa (các cơ sở Thanh Long, Huỳnh Thành), thạch dừa lên men từ vi khuẩn Acetobacter, cơm dừa nạo sấy, than gáo dừa, than hoạt tính, chỉ xơ dừa, nệm xơ dừa và hàng thủ công mỹ nghệ.

Chương III: Định hướng và giải pháp phát triển ngành dừa ở Bến Tre đến năm 2010

Chương III vạch ra định hướng chiến lược và các nhóm giải pháp đồng bộ nhằm phát triển bền vững ngành dừa Bến Tre đến năm 2010.

Về định hướng, ngành dừa Bến Tre được quy hoạch trở thành vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm và cung cấp nguyên liệu chế biến xuất khẩu chủ lực theo mục tiêu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Địa phương định hướng chuyển đổi mạnh mẽ từ tập quán trồng độc canh sang kinh tế vườn dừa sinh thái đa tầng kết hợp trồng xen (ca cao, tiêu, cây ăn trái) và nuôi xen (thủy sản nước lợ, ong mật, gia súc) nhằm nâng cao giá trị sử dụng đất.

Về hệ thống giải pháp:

  • Giải pháp nông nghiệp và kỹ thuật canh tác:
    • Cải tạo vườn dừa già cỗi, thay thế các giống thoái hóa bằng các tổ hợp giống lai năng suất cao (PB121, JVA1, JVA2) và giống đặc sản thông qua việc nâng cao năng lực cung ứng của Trung tâm Thực nghiệm Dừa Đồng Gò.
    • Áp dụng quy trình kỹ thuật làm cỏ, bón phân đúng phạm vi hấp thụ của rễ (bán kính 2 m), thực hiện cày bừa cách gốc trên 2 m để tránh đứt rễ con.
    • Đẩy mạnh công tác bảo vệ thực vật, nhân rộng việc nhân nuôi và phóng thích ong ký sinh để khống chế triệt để dịch hại bọ dừa.
    • Xây dựng hệ thống thủy lợi nội đồng, nạo vét kênh mương ngăn mặn, trữ ngọt tưới tiêu cho các vườn dừa vào mùa khô.
  • Giải pháp công nghiệp chế biến và tổ chức sản xuất:
    • Đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại nhằm nâng cao tỷ trọng chế biến sâu thay vì xuất khẩu thô (tập trung vào than hoạt tính, sữa dừa ép đóng hộp, bột sữa dừa sấy phun, dầu dừa tinh luyện, thạch dừa tinh chế).
    • Khuyến khích thành lập các liên doanh và thu hút dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực chế biến dừa xuất khẩu theo danh mục ưu tiên của Chính phủ.
    • Tăng cường liên kết giữa công nghiệp và nông nghiệp nhằm xây dựng vùng nguyên liệu ổn định, bảo đảm lợi ích cho nông dân thông qua hợp đồng tiêu thụ.
  • Giải pháp thị trường, vốn và chính sách:
    • Mở rộng thị trường xuất khẩu sang Trung Quốc, các nước ASEAN, EU, Hoa Kỳ; đẩy mạnh xúc tiến thương mại cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ thân, lá, gáo và xơ dừa.
    • Tỉnh triển khai chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay vốn cho các hộ cải tạo vườn tạp và các doanh nghiệp đầu tư dây chuyền chế biến mới; đẩy mạnh chuyển giao kỹ thuật qua mạng lưới khuyến nông cơ sở (tiêu biểu như mô hình hỗ trợ vốn, giống và phân bón của Trung tâm Khuyến nông huyện Mỏ Cày).
    • Chuẩn bị năng lực cạnh tranh cho sản phẩm dừa của tỉnh trong tiến trình Việt Nam hội nhập khu vực thương mại tự do AFTA và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đạt được các kết quả và số liệu cụ thể:

  • Xác lập bức tranh hiện trạng toàn diện về vị trí cây dừa tại Bến Tre: Cây dừa chiếm 18% diện tích đất nông nghiệp của tỉnh; mang lại 28% tổng thu nhập trồng trọt cho các nông hộ (đạt mức bình quân 4,03 triệu đồng/hộ/năm toàn ngành trồng trọt), khẳng định dừa là nguồn thu nhập lớn thứ hai sau lúa và cao hơn toàn bộ nhóm cây ăn quả.
  • Tổng hợp và hệ thống hóa các thông số sinh học nông nghiệp chính xác của cây dừa (bộ rễ 4.000 - 7.000 rễ chính trong bán kính 2 m, ăn nông 30 - 60 cm; tỷ lệ rụng quả sinh lý 50 - 70%; biên độ nhiệt thích hợp 24 - 25°C, giới hạn 20 - 34°C, lượng mưa tối thiểu 1.500 mm).
  • Đánh giá hiện trạng dịch tễ học nông nghiệp: Ghi nhận mức độ tàn phá của dịch bọ dừa từ năm 1999 đến cuối năm 2002 làm hại 9.034.000 cây (chiếm 40% diện tích dừa cả nước); đồng thời ghi nhận kết quả phục hồi trên 90% diện tích vườn dừa bị hại tại Giồng Trôm và thị xã Bến Tre nhờ giải pháp phóng thích ong ký sinh nhập từ Indonesia vào đầu năm 2004.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: So với khóa luận của sinh viên Nguyễn Thị Thanh Trúc (K26 ĐH Sư phạm TP.HCM) chỉ dừng lại ở bước đầu tìm hiểu biến động sản xuất và chế biến, tác giả Đoàn Thị Kiều Giang đã mở rộng nghiên cứu sâu hơn về vị thế của ngành dừa trong tổng thể kinh tế - xã hội địa phương, phân tích mối quan hệ giữa công nghiệp chế biến và vùng nguyên liệu, đồng thời bổ sung dữ liệu điều tra thực tế trực tiếp từ các hộ trồng dừa tại huyện Giồng Trôm và các doanh nghiệp chế biến trên địa bàn tỉnh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Nguồn số liệu thống kê giữa các ban ngành chuyên trách (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công nghiệp, Cục Thống kê) có sự chênh lệch và thiếu tính đồng bộ xuyên suốt qua một số năm.
  • Phạm vi điều tra thực tế bằng phiếu thăm dò nông dân mới thực hiện tập trung tại địa bàn huyện Giồng Trôm, chưa mở rộng đồng đều ra các huyện vùng sinh thái mặn ven biển (Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại).
  • Việc tiếp cận số liệu chi tiết về chi phí sản xuất, doanh thu và lợi nhuận thực tế tại một số doanh nghiệp chế biến tư nhân còn gặp khó khăn do bảo mật kinh doanh.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát thực địa trên toàn bộ các tiểu vùng sinh thái nông nghiệp của tỉnh (vùng ngọt, vùng lợ, vùng mặn) để đánh giá đầy đủ hiệu quả kinh tế của các mô hình trồng xen, nuôi xen khác nhau.
  • Đi sâu nghiên cứu chuỗi cung ứng logistics nông sản đường thủy - đường bộ trong bối cảnh hạ tầng giao thông cầu đường của Bến Tre tiếp tục được đầu tư nâng cấp.
  • Đánh giá tác động cụ thể của các cam kết cắt giảm thuế quan theo lộ trình AFTA và việc gia nhập WTO đối với sức cạnh tranh của từng nhóm sản phẩm chế biến từ dừa của Bến Tre trên thị trường quốc tế.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Giảng viên, sinh viên và học viên chuyên ngành Địa lý học (đặc biệt là Địa lý Kinh tế - Xã hội), Kinh tế Nông nghiệp, Nông học và Phát triển Nông thôn tham khảo về phương pháp tiếp cận lãnh thổ, phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thực địa trong nghiên cứu ngành hàng nông nghiệp.
  • Cán bộ quản lý tại các cơ quan khuyến nông, phòng nông nghiệp và các tổ chức quy hoạch phát triển nông thôn tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long khi xây dựng mô hình sinh thái vườn thích ứng với biến đổi khí hậu và hiện tượng xâm nhập mặn.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống thông số nông học - sinh thái của cây dừa gắn với kỹ thuật canh tác (Chương I), bảng phân tích mối quan hệ giữa thổ nhưỡng - thủy văn với cơ cấu thu nhập của hộ nông dân trồng dừa (Chương II), và hệ thống dữ liệu phòng trừ sinh học đối với dịch bọ dừa.

Câu hỏi thường gặp

1. Đặc tính bộ rễ cây dừa đòi hỏi người nông dân phải tuân thủ những kỹ thuật canh tác nào? Hệ thống rễ dừa không có rễ trụ, rễ chính phát triển theo chiều ngang tập trung trong vòng bán kính 2 m kể từ gốc và ăn nông ở tầng đất từ 30 - 60 cm; cơ quan hấp thụ dinh dưỡng chính là các rễ con cấp 3 nằm cách chóp rễ 5 cm. Do đó, người nông dân cần bón phân và làm sạch cỏ triệt để trong chu vi bán kính 2 m quanh gốc cây. Khi cày bừa đất xen hoặc chôn vỏ dừa cải tạo đất, bắt buộc phải thực hiện cách hàng dừa tối thiểu 2 m mỗi bên và không được cày xới quá sâu để tránh làm đứt hệ thống rễ hấp thụ.

2. Dịch hại bọ dừa đã tác động như thế nào đến Việt Nam và biện pháp phòng trừ sinh học tại Bến Tre đạt kết quả ra sao? Bọ dừa (Brontispa longissima) xuất hiện tại Việt Nam vào năm 1999 tại Sa Đéc, sau đó lây lan ra 21 tỉnh thành; tính đến cuối năm 2002 đã có hơn 9,03 triệu cây dừa bị hại (chiếm 40% tổng số cây cả nước, tại Phú Yên và Khánh Hòa tỷ lệ hại lên đến 71 - 90%). Đầu năm 2004, Cục Bảo vệ Thực vật cho phóng thích thử nghiệm loài ong ký sinh nhập khẩu từ Indonesia vào các vườn dừa tại huyện Giồng Trôm và thị xã Bến Tre; kết quả thực tế ghi nhận các vườn dừa bị hại đã phục hồi được trên 90%.

3. Cây dừa đóng góp tỷ trọng bao nhiêu trong tổng thu nhập trồng trọt của hộ nông dân tỉnh Bến Tre? Toàn tỉnh Bến Tre có 82,1% số hộ gia đình tham gia hoạt động trồng trọt, với mức thu nhập bình quân từ trồng trọt đạt 4,03 triệu đồng/hộ/năm. Trong cơ cấu thu nhập này, cây dừa đóng góp tỷ trọng 28%, chỉ đứng sau lúa (31,5%) và vượt qua toàn bộ nhóm cây ăn trái (26,3%). Thu nhập từ dừa đạt cao nhất tại nhóm huyện Giồng Trôm, Mỏ Cày, thị xã Bến Tre và thấp nhất tại các huyện ven biển Ba Tri, Thạnh Phú.

4. Khóa luận sử dụng các quan điểm phương pháp luận địa lý nào để phân tích ngành dừa? Tác giả vận dụng đồng bộ 3 quan điểm phương pháp luận địa lý chủ đạo gồm: Quan điểm tổng hợp lãnh thổ (đánh giá mối quan hệ hữu cơ Tự nhiên - Kinh tế - Xã hội tác động lên ngành dừa); Quan điểm hệ thống (xác định Bến Tre là cấp phân vị trung gian, liên kết từ cấp xã/huyện lên cấp vùng ĐBSCL, quốc gia và quốc tế, đồng thời gắn kết ngành trồng dừa với công nghiệp chế biến); và Quan điểm lịch sử - viễn cảnh (phân tích biến động diện tích, sản lượng trong quá khứ và hiện trạng để dự báo xu thế phát triển tương lai).

5. Hai nhóm dừa cao và dừa lùn khác biệt nhau ở những chỉ tiêu sinh học và kinh tế chủ yếu nào? Nhóm dừa cao có đặc tính thụ phấn chéo, thời gian ra hoa muộn (5 - 7 năm nếu có tưới, 7 - 10 năm nếu không tưới), số lượng quả trên buồng ít nhưng kích thước quả to và hàm lượng dầu cao trên 60% (tiêu biểu như dừa Ta, dừa Dâu, dừa Giấy). Ngược lại, nhóm dừa lùn tự thụ phấn, thời gian ra hoa sớm, số lượng quả trên buồng sai nhưng quả nhỏ và hàm lượng dầu thấp dưới 60% (tiêu biểu như dừa Eo, Xiêm lùn, Tam quan).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đoàn Thị Kiều Giang là công trình nghiên cứu địa lý kinh tế - xã hội có giá trị thực tiễn cao về thực trạng sản xuất và chế biến các sản phẩm từ dừa tại tỉnh Bến Tre giai đoạn 1995 - 2004. Bằng việc kết hợp hệ thống số liệu chuyên ngành với điều tra thực địa tại Giồng Trôm, nghiên cứu đã làm sáng tỏ vị trí trụ cột của cây dừa trong cơ cấu thu nhập nông hộ và giá trị sinh thái thích nghi bền vững của vườn dừa trước hiện tượng phèn mặn. Các định hướng và giải pháp đề xuất về chuyển đổi sang kinh tế vườn đa tầng, cải tạo giống lai và hiện đại hóa công nghệ chế biến sâu đã cung cấp luận cứ khoa học quan trọng cho chiến lược phát triển ngành dừa địa phương hướng tới năm 2010.