Chương 1: Co sở lí luận. Chương 2: Tác động của quá trình công nghiệp hoá & đô thị hoá đến đời sống dân cưtỉnh Bình Dương từ sau khi được tái lập đến nay. Chương 3: Đánh giá - Định hướng phát triển - Giải pháp. Phần HI: Phần kết luận Phần IV: Phần phụ lục.
12 “Tac động của quá trình công nghiệp hoá va đô thị hoá đến đời sống dân cư tỉnh Bình Dương từ sau khi được tái lập đến nay”. DIHAN 22: DHAA NOP DUNG. CHUONG 1: CO SỞ LÍ LUẬN. CAC KHÁI NIỆM.
KHÁI NIỆM CÔNG NGHIỆP HOÁ. Theo Giáo sư Nguyễn Dược :"Công nghiệp là ngành sản xuất có vai trò chủ đạo trong nền kính tế quốc dân hiện nay. Nó có nhiệm vụ khai thác, chế biến những tài nguyên thiên nhiên và cả các nông sản, hải san. thành các sản phẩm tiêu dùng, tư liệu sản xuất.
để phục vụ đời sống xã hội và thúc đẩy quá trình kinh tế, nâng cao đời sống con người °. Công nghiệp tuy hiểu theo nghĩa rộng là một ngành nhưng thực ra là một hệ thống bao gồm rất nhiều ngành sản xuất phức tạp, có quan hệ chặt chẽ với nhau. Vì vậy việc phân loại các ngành công nghiệp là một vấn để phức tạp và khó khăn. Hiện nay có nhiều cách phân loại khác nhau và mang tính chất tương đối.
Căn cứ vào công dụng kinh tế của sản phẩm người ta chia các ngành công nghiệp thành hai nhóm: Nhóm A (công nghiệp nặng) gồm các ngành sản xuất các sản phẩm sử dụng trong các ngành sản xuất khác: công cụ lao động (máy móc, thiết bị .), tư liệu lao động ( nguyên nhiên liệu .); Nhóm B (công nghiệp nhẹ) gồm các ngành sản xuất ra các sản phẩm không sử dụng vào mục đích sản xuất mà phục vụ cho mục đích tiêu dùng trực tiếp của con người (công nghiệp thực phẩm, dệt, sành sứ, giày dép, .) 13 “Tác động của quá trình công nghiệp hoá va đô thị hoá đến đời sống dân cu tỉnh Bình Duong từ sau khi được tái Lập đến nay”. Căn cứ vào tính chất và đặc điểm của ngành sản xuất, người ta có thể chia ra: Nhóm các ngành công nghiệp cơ bản (luyện gang thép, hoá chất. quá trình khai thác nguyên liệu) là các ngành chế biến đợt đầu các nguyên liệu thành sản phẩm thô hoặc bán thành phẩm cung cấp cho các ngành công nghiệp khác; Nhóm các ngành công nghiệp chế biến, sử dụng các sản phẩm thô của các ngành cơ bản để chế biến thành các sản phẩm hoàn chỉnh (công nghiệp cơ khí, dệt,thực phẩm Ngày nay, các cách phân loại này không còn phù hợp; vì số lượng các ngành công nghiệp rất lớn và đa dạng. Chúng xâm nhập vào nhau và trở nên khó phân biệt đâu là công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, ngành nào là cơ bản, ngành nào là chế biến.
Công nghiệp hoá: Theo Mazlish: “Công nghiệp hoá là một quá trình được đánh đấu bằng sự chuyển động từ một nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp sang một nền kinh tế được gọi là công nghiệp ”. Theo Ledriere: "Công nghiệp hoá là một quá trình mà các xã hội ngày nay chuyển từ một kiểu kinh tế xuất chủ yếu dựa vào nông nghiệp với đặc điểm năng suất thấp và tăng trưởng cực kì thấp hay bằng không sang một kiểu kinh tế cơ bản dựa trên nông công nghiệp với đặc điểm năng suất và tăng trưởng tương đối cao”. Theo tổ chức công nghiệp thế giới UNIDO: “Công nghiệp hoá là một quá trình phát triển kinh tế. Trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được huy động để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kĩ thuật hiện đại.
Đặc điểm cơ cấu kinh tế này có một bộ phận chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng có khả năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, đảm bảo đạt tới sự tiến bộ về kinh tế - xã hội”. ——ề>—————— 14 “Tác động của quá trình công nghiệp hoá uà đô thị hoá đến đời sống dân cư tỉnh Bình Dương từ sau khi được tái lập đến nay”. KHÁI NIỆM ĐÔ THỊ HOÁ. Đô thị: Theo Hoàng Như Tiếp: “Đô thị xã hội chủ nghĩa là một thể tổng hợp, trong đó những bộ phận dân cư cơ bản được bố trí thích dụng và tiện nghi, liên hệ mật thiết với nhau trên một lãnh thổ nhất định giống như một dây chuyển theo chức năng và rút ra từ một quy trình sản xuất.
Ở đó thể hiện cùng một lúc sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, nơi cư trú cho người lao động và các hoạt động văn hoá khoa học và tinh thin”. Đô thị hoá: Đô thi hoá tiếng Anh là uzbanixaoin, tiếng Pháp là urbanisation. đều bắt nguồn từ tiếng Latinh là urbanus “thude về đô thị”, urbas là thành phố: là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, sự hình thành nhanh chóng các điểm quần cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống. Đô thị hoá là quá trình phát triển thành phố, nâng cao tỉ lệ dân cư đô thị và phổ biến lối sống đô thị.
Quá trình này gắn liền với công nghiệp hoá và làm thay đổi mạnh mẽ sự phân bố lực lượng sản xuất và phân bố dân cư, sự thay đổi cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu xã hội, kết cấu giới tính lứa tuổi của dân cư, hình thức kiến trúc từ dạng nông thôn sang thành thị và làm thay đổi mạnh mẽ môi trường sống. Trong giai đoạn đầu, đô thị hoá được hiểu theo nghĩa hẹp là sự phát triển thành phố và việc nâng cao vai trò của nó trong đời sống kinh tế xã hội. Tuy nhiên không thể đồng nhất đô thị hoá với sự tăng số lượng các đô thị, quy mô dân số đô thị, cũng như ảnh hưởng của nó đối với các vùng xung quanh mà phải chú ý đến những thay đổi mang tính chất đa dạng vé mặt kinh tế xã hội của quá trình này gắn kết với sự ~ phát triển công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ và sự phân bố dân cư, phân bố sản xuất. 15 “Tác động của quá trình công nghiệp hod va đô thị hoá đến đời sống dân cư tỉnh Bình Dương từ sau khi được tái lập đến nay”.
Đô thị hoá đã chuyển hoá sự phân bố dân cư phân tán ở các vùng nông thôn sang dạng phân bố dân cư tập trung của các đô thị gắn với hoạt động sản xuất phi nông nghiệp, làm cho vai trò của các ngành dịch vụ tăng lên, cùng với tác động của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đối với nền kinh tế xã hội thế giới, làm cho tỈ lệ dân cư sống trong đô thị ngày càng tăng lên. Đô thị hoá cũng không ngừng làm thay đổi cách cư xử và thái độ của con người đối với thiên nhiên, cũng như làm thay đổi cách sống, cách sinh hoạt của chính bản thân con người trong đô thị. Đô thị hoá phải được hiểu theo nghĩa rộng với nội dung như sau: Sự tập trung dân cư vào các đô thị. Quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào các đô thị lớn.
Quá trình mở rộng không ngừng diện tích đô thị. Quá trình phổ biến lối sống thành thị vào nông thôn. Nhu cầu tiến hành đô thị hoá. Đô thị hoá là quá trình tiến bộ của xã hội loài người, là xu hướng tất yếu của lịch sử, là người bạn song hành của quá trình công nghiệp hoá.
Đô thị hoá thực sự bắt đầu và phát triển mạnh mẽ từ sau cuộc cách mạng công nghiệp ở châu Au cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Sự xuất hiện máy móc thiết bị công nghiệp và sự lớn mạnh của lực lượng sản xuất đã tách công nghiệp ra khỏi nông nghiệp và phát triển thương nghiệp thành khu vực phi sản xuất vật chất.Alaev, những nguyên nhân chính thúc đẩy quá trình đô thị hoá là: sự phân công lao động xã hội, đặc biệt là sự lớn lên của các hoạt động phi nông nghiệp, sự tập trung hoá sản xuất và việc biến khoa học kĩ thuật thành lực lượng sản xuất trực tiếp. l6 “Tác động của quá trình công nghiệp hoá uà đô thị hoá đến đời sống dân cư tỉnh Bình Dương từ sau khi được tái lập đến nay”. Đô thi hoá tạo điều kiện cho các quốc gia chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp va dịch vụ.
Các đô thị lớn thừơng thu hút các vùng ngoại Ô xung quanh và các đô thị nhỏ thành đô thị có qui mô ngày càng lớn hơn. Quá trình công nghiệp hoá thường kéo theo quá trình đô thị hoá nhằm tạo ra cơ sở hạ tang và cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ nhu cẩu phát triển kinh tế. Đông thời làm thay đổi lối sống nông dân sang lối sống và tác phong công nghiệp; hình thành kiểu quần cư tập trung xung quanh các vùng sản xuất công nghiệp. CÁC KHÁI NIỆM VỀ DÂN SỐ.
Tỉ lệ gia tăng tự nhiên. Là tỉ lệ gia tăng dân số (tính bằng % hoặc %e) trên một lãnh thổ, một quốc gia, do sự chênh lệch giữa ti suất sinh thô và tỉ suất tử vong thô trong một thời gian nhất định (1 năm). Gia tăng tự nhiên của dân số là nguyên nhân duy nhất dẫn đến sự tăng dân số trên bể mặt trái đất. a, Tỉ suất sinh, Tỉ suất sinh là đơn vị đo mức sinh được tính bằng tương quan giữa số trẻ sinh ra và số đân tương ứng.
Tỉ suất sinh thô được sử dụng rất rộng rãi trong dân số học. Đó là tỉ số giữa số trẻ em được sinh ra trong năm so với số dân trung bình ở cùng thời gian ấy, đơn vị tính bằng phan nghìn (%o) Có nhiều cách phân loại tỉ suất sinh thô. Theo tổ chức y tế thế giới, tỉ suất sinh thô hàng năm của một nước đạt: Dưới 16% :thấp. 17 “Tác động của quá trình công nghiệp hoá uà đô thị hoá đến đời sống dan cư tỉnh Bình Dương từ sau khi được tái lập đến nay”.
25-29% : tương đối cao. Trên 40% :rất cao. Độ lớn của tỉ suất sinh thô không giống nhau theo thời gian và không gian. Nó phụ thuộc vào cường độ của quá trình sinh đẻ, kết cấu dan số theo độ tuổi, giới tính và kết cấu hôn nhân.
b, suất Tỉ tử. Ti suất tử là chỉ số thống kê dân số đo mức tử vong của dân cư. Ti suất tử thô là tỉ số tính bằng %o giữa số người chết trong năm so với dan số trung bình ở cùng thời điểm.