Khóa luận tốt nghiệp Luật: phương thức giải quyết tranh chấp thương mại

Khóa luận phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải ngoài tố tụng theo pháp luật việt nam thực tiễn áp phục vụ n

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật học chất lượng cao

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2018

74
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp thương mại

Tranh chấp thương mại là những bất đồng phát sinh giữa các chủ thể kinh doanh trong quá trình thực hiện các giao dịch thương mại. Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam phát triển theo cơ chế thị trường, các quan hệ thương mại ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp. Tranh chấp thương mại có những đặc điểm nổi bật: tính chuyên môn cao, liên quan đến lợi ích kinh tế lớn, và phạm vi rộng từ nội địa đến quốc tế. Các tranh chấp này xuất phát từ các hợp đồng mua bán, ủy thác, vận chuyển hàng hóa và các giao dịch thương mại khác. Sự phát triển của hoạt động kinh doanh quốc tế đòi hỏi cần có những phương thức giải quyết tranh chấp thương mại hiệu quả, kịp thời và công bằng.

1.1. Khái niệm tranh chấp thương mại

Tranh chấp thương mại là những xung đột phát sinh giữa các bên trong quan hệ kinh doanh. Đây là những bất đồng về quyền, lợi ích liên quan đến các giao dịch mua bán, vận chuyển hoặc cung cấp dịch vụ. Các tranh chấp này có tính chất thương mại đặc trưng, đòi hỏi sự hiểu biết chuyên môn cao và cần giải quyết nhanh chóng để không ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh tiếp theo.

1.2. Đặc điểm của tranh chấp thương mại

Tranh chấp thương mại có những đặc điểm riêng biệt: tính kỹ thuật cao, các bên thường là những người kinh doanh chuyên nghiệp, liên quan đến lợi ích kinh tế đáng kể, và thường có yếu tố quốc tế. Điều này đòi hỏi các phương thức giải quyết phải linh hoạt, nhanh chóng và phù hợp với tính chất của tranh chấp thương mại.

II. Phương thức hòa giải thương mại ngoài tố tụng

Hòa giải thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại ngoài tố tụng, trong đó các bên xung đột được hỗ trợ bởi một bên thứ ba trung lập để tìm ra giải pháp chung. Phương thức này được công nhận rộng rãi bởi pháp luật Việt Nam và các cam kết quốc tế. Hòa giải có những ưu điểm vượt trội: tiết kiệm thời gian và chi phí, bảo vệ tính bí mật của các giao dịch kinh doanh, và giữ lại quan hệ hợp tác giữa các bên. Nguyên tắc cốt lõi của hòa giải thương mại là bình đẳng, tự nguyện, và bảo mật. Quy trình hòa giải diễn ra thông qua các cuộc thương thảo được điều phối bởi hòa giải viên chuyên nghiệp, nhằm giúp các bên đạt được thỏa thuận.

2.1. Nguyên tắc và ưu điểm của hòa giải

Hòa giải thương mại dựa trên các nguyên tắc cơ bản: tự nguyện của các bên, bình đẳng pháp lý, bảo vệ tính bí mật, và hoà bình. Ưu điểm chính bao gồm: tiết kiệm chi phí so với tòa án, thời gian giải quyết nhanh chóng, kết quả được các bên chấp nhận cao, và giữ được mối quan hệ kinh doanh lâu dài giữa các bên tranh chấp.

2.2. Quy trình và hiệu lực của thỏa thuận hòa giải

Quy trình hòa giải bắt đầu từ việc các bên thỏa thuận chọn hòa giải viên hoặc tổ chức hòa giải. Sau đó hòa giải viên sẽ tiến hành các cuộc gặp gỡ, nghe ý kiến các bên và đề xuất giải pháp. Thỏa thuận hòa giải khi được ký kết có hiệu lực pháp lý, có thể được thi hành tại tòa án.

III. Quy định pháp luật về hòa giải ngoài tố tụng ở Việt Nam

Pháp luật Việt Nam đã có những quy định chi tiết về giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải. Việt Nam là thành viên của Công ước New York năm 1958 và các hiệp ước quốc tế khác liên quan đến hòa giải thương mại. Bộ Luật Dân sự, Bộ Luật Tố tụng Dân sự, Luật Hòa giải và các văn bản pháp lý khác cung cấp các quy định về phương thức hòa giải, quyền và nghĩa vụ của hòa giải viên, cũng như hiệu lực của thỏa thuận hòa giải. Trong thực tiễn, giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải tại Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể, nhưng vẫn còn những hạn chế cần khắc phục để nâng cao hiệu quả áp dụng.

3.1. Cam kết quốc tế và quy định pháp luật Việt Nam

Việt Nam đã ký kết và phê chuẩn nhiều công ước quốc tế về hòa giải thương mại. Các quy định nội bộ bao gồm: Bộ Luật Dân sự, Bộ Luật Tố tụng Dân sự, và các quy định chuyên biệt. Những quy định này tạo khung pháp lý toàn diện cho hoạt động hòa giải và bảo vệ quyền lợi các bên.

3.2. Thực tiễn áp dụng và những hạn chế

Trong thực tiễn, giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải tại Việt Nam đang phát triển nhưng còn những hạn chế: nhận thức chưa cao từ doanh nghiệp, thiếu hòa giải viên chuyên nghiệp, và khó khăn trong thi hành thỏa thuận hòa giải. Nguyên nhân chủ yếu là sự thiếu hiểu biết và tuyên truyền về lợi ích của hòa giải thương mại.

IV. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hòa giải thương mại

Để nâng cao hiệu quả của giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải, cần thực hiện các biện pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao nhận thức. Thứ nhất, cần phát triển đội ngũ hòa giải viên thông qua các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên nghiệp. Thứ hai, tuyên truyền rộng rãi về ưu điểm và phương thức hòa giải thương mại để nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp. Thứ ba, hoàn thiện khung pháp lý, làm rõ các vấn đề chưa được quy định đầy đủ. Thứ tư, thiết lập các tổ chức hòa giải uy tín, có năng lực cao. Những biện pháp này sẽ giúp phương thức hòa giải trở thành lựa chọn chính yếu trong giải quyết tranh chấp thương mại ở Việt Nam.

4.1. Đào tạo và phát triển đội ngũ hòa giải viên

Hòa giải viên là yếu tố then chốt trong giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải. Cần thiết lập các chương trình đào tạo thường xuyên, nâng cao chuyên môn về luật, kinh tế và kỹ năng giao tiếp. Các hòa giải viên cần có chứng chỉ, được công nhận pháp lý, và tuân thủ bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp.

4.2. Tuyên truyền và nâng cao nhận thức

Cần tuyên truyền rộng rãi ưu điểm của hòa giải thương mại thông qua các hội nghị, seminar, và phương tiện truyền thông. Giáo dục pháp luật trong các trường đại học, trung tâm đào tạo cần nhấn mạnh tầm quan trọng của giải quyết tranh chấp bằng hòa giải. Điều này sẽ tạo nhận thức đúng đắn, giúp doanh nghiệp lựa chọn phương thức hòa giải một cách tự nguyện và chủ động.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG HÒA GIẢI NGOÀI TỐ TỤNG 1.Khái quát về tranh chấp thương mại 1. Khái niệm tranh chấp thương mại Tranh chấp thương mại là một trong những hệ quả của hoạt động thương mại, đó là một hiện tượng phổ biến và thường xuyên diễn ra trong hoạt động của nền kinh tế thị trường. Do tính chất thường xuyên cũng như hậu quả của nó gây ra cho các chủ thể tham gia tranh chấp nói riêng và cho cả nền kinh tế nói chung, pháp luật Việt Nam cũng đã sớm có những quan tâm nhất định đến hoạt động này cũng như các phương thức giải quyết. Tranh chấp thương mại (hay tranh chấp kinh doanh thương mại) là thuật ngữ quen thuộc trong đời sống kinh tế - xã hội ở các nước trên thế giới.

Khái niệm này mới được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở nước ta trong những năm gần đây bởi sự nhường bước của khái niệm tranh chấp kinh tế - một khái niệm quen thuộc của cơ chế kế hoạch hóa đã ăn sâu trong tiềm thức và tư duy pháp lý của người Việt Nam. Tranh chấp có thể biểu hiện ở những dạng sau: - Tranh chấp trong kinh doanh: được diễn ra giữa các chủ thể tham gia kinh doanh, đó là tranh chấp phát sinh trong các khoản đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ trên thị trường hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi - Tranh chấp giữa nhà đầu tư với nước tiếp nhận đầu tư: loại tranh chấp này nảy sinh trong việc thực hiện các hợp đồng BOT, BTO, BT, thực hiện điều ước quốc tế khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương hoặc đa phương. - Tranh chấp giữa các quốc gia với các thiết chế kinh tế quốc tế trong việc thực hiện điều ước quốc tế về thương mại đa phương, ví dụ tranh chấp giữa Mỹ và EU về nhập khẩu chuối. 6 Có thể nói trong các loại hình tranh chấp trên thì tranh chấp về thương mại là loại hình tranh chấp phổ biến nhất Tổ chức thương mại thế giới (WTO) quan niệm tranh chấp thương mại là tranh chấp ở phạm vi quốc tế, được dùng để chỉ các bất đồng giữa các nước thành viên WTO khi một nước cho rằng quyền lợi của mình theo một hiệp định nào đó của WTO bị triệt tiêu đi hay bị xâm hại do việc một nước thành viên khác áp dụng một biện pháp thương mại hoặc không thực hiện một nghĩa vụ; hoặc khi việc đạt được mục tiêu của hiệp định bị cản trở, triệt tiêu hoặc suy giảm quyền lợi thương mại do biện pháp thương mại của một thành viên bất kể là biện pháp này có trái với nghĩa vụ thành viên hay không; hoặc khi có bất kỳ tình tiết nào đem lại thiệt hại về quyền lợi hay cản trở đạt mục tiêu hiệp định.

Hơn nữa, một bất đồng chỉ trở thành một tranh chấp của WTO khi nó được chính thức thông báo cho Ban thư ký WTO. Như vậy, trong khuôn khổ WTO, tranh chấp thương mại được hiểu là bất đồng giữa các thành viên WTO liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo các Hiệp định và thỏa thuận của WTO và bất đồng này được thông báo chính thức cho Ban thư ký WTO vì vậy nó có đặc điểm sau: Thứ nhất, tranh chấp thương mại trong WTO là tranh chấp thương mại quốc tế liên quốc gia, liên chính phủ Thứ hai, các bên tranh chấp là thành viên WTO. Các tổ chức quốc tế, các cá nhân, pháp nhân không thể là một bên của tranh chấp Thứ ba, khách thể của tranh chấp luôn liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo các hiệp định và thỏa thuận của WTO Thứ tư, tranh chấp phải được giải quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Ở Việt Nam, khái niệm tranh chấp thương mại trong từng giai đoạn là khác nhau cũng có nhiều cách hiểu khác nhau.

Lần đầu tiên khái niệm tranh chấp thương mại được ghi nhận trong Luật Thương mại năm 1997 tại Điều 238 như sau: “Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không 7 thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại”. Theo đó, nội hàm hoạt động thương mại theo quy định của Luật Thương mại năm 1997 rất hẹp so với quan niệm quốc tế về thương mại. Hoạt động thương mại chỉ bao gồm ba nhóm: Hoạt động mua bán hàng hóa; cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại. Tranh chấp thương mại và hoạt động thương mại theo quy định của Luật Thương mại năm 1997 đã loại bỏ rất nhiều tranh chấp mà xét về bản chất thì các tranh chấp đó có thể được coi là tranh chấp thương mại.

Vì vậy đã dẫn đến các xung đột pháp luật trong hệ thống pháp luật, giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, trong đó có cả những Công ước quốc tế quan trọng mà Việt Nam đã là thành viên (Công ước New York năm 1958) gây không ít những trở ngại, rắc rối trong thực tiễn áp dụng và chính sách hội nhập [40]. Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 không trực tiếp đưa ra định nghĩa về tranh chấp thương mại song với sự hiện diện của khái niệm “hoạt động thương mại” theo nghĩa rộng đã tạo ra sự tương đồng trong quan niệm về thương mại và tranh chấp thương mại của pháp luật Việt Nam với chuẩn mực chung của pháp luật và thông lệ quốc tế. Luật Thương mại năm 2005 đã đưa ra một khái niệm về hoạt động thương mại theo đó khái niệm này mở rộng hoạt động thương mại bao gồm tất cả mọi hoạt động có mục đích sinh lợi. Hướng tiếp cận này cho thấy khái niệm về hoạt động thương mại đã thể hiện sự tương đồng với khái niệm kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp 1999, Luật doanh nghiệp 2005 cũng như Luật doanh nghiệp năm 2014.

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã liệt kê các tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tuy sử dụng thuật ngữ các tranh chấp kinh doanh, thương mại nhưng về nội hàm thì tương đồng với các tranh chấp thương mại theo Luật Thương mại năm 2005. Từ các tiếp cận trên có thể hiểu: tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng, xung đột về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể (có thể là 8 thương nhân hoặc không phải là thương nhân) trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại (các hoạt động có mục đích sinh lời). Đặc điểm của tranh chấp thương mại Tranh chấp kinh doanh thương mại là tranh chấp phát sinh từ những quan hệ do ngành luật thương mại điều chỉnh, vì vậy nó có những đặc trưng khác biệt so với tranh chấp dân sự và tranh chấp lao động.

Về cơ bản tranh chấp kinh doanh thương mại có những đặc điểm sau: Thứ nhất, tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (trạng thái xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ thương mại. Quan hệ thương mại và bất đồng giữa các bên trong quan hệ thương mại là điều kiện cần và đủ để tranh chấp phát sinh. Trong hoạt động thương mại,các bên vừa hợp tác đồng thời vừa cạnh tranh nhau để đạt được những mục đích đề ra. Do đó, việc phát sinh những mâu thuẫn, bất đồng trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên là điều tất yếu.

Thứ hai, những mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phải phát sinh từ hoạt động thương mại. Theo đó, tranh chấp thương mại phải là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh từ những hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Thứ ba, về chủ thể, tranh chấp thương mại chủ yếu là những tranh chấp phát sinh giữa các thương nhân (cá nhân, pháp nhân) kinh doanh với nhau. Ngoài thương nhân là chủ thể chủ yếu của tranh chấp thương mại, trong những trường hợp nhất định, các cá nhân, tổ chức khác (không phải là thương nhân) cũng có thể là chủ thể của tranh chấp thương mại khi trong các giao dịch trên bên không có mục đích sinh lợi chọn áp dụng luật thương mại [Khoản 3 Điều 1 Luật Thương mại 2005].

Khoa học pháp lý gọi giao dịch này là giao dịch hỗn hợp. Về bản chất, hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân không phải là hoạt động 9 thương mại thuần túy, nhưng bên không nhằm mục đích sinh lợi đã chọn áp dụng luật thương mại thì quan hệ này trở thành quan hệ pháp luật thương mại và tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật này phải được quan niệm là tranh chấp thương mại [65]. Thứ tư, việc giải quyết tranh chấp thương mại là do các bên trong tranh chấp tự định đoạt. Điều này thể hiện ở việc các bên trong tranh chấp có quyền lựa chọn giải pháp giải quyết tranh chấp phù hợp trong các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại được pháp luật quy định như thương lượng, hòa giải, trong tài, Tòa án.

Tuy nhiên, các bên vẫn phải đảm bảo tôn trọng lợi ích của nhau và lợi ích của nhà nước. Tóm lại, tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn phát sinh giữa các chủ thể (có thể là thương nhân hoặc không) trong quá trình hoạt động thương mại. Nó đã trở thành một hiện tượng tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường. Khi tranh chấp thương mại phát sinh đòi hỏi cần phải được giải quyết một cách minh bạch và hiệu quả để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể, góp phần ngăn ngừa sự vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại, bảo đảm trật tự pháp luật, kỷ cương xã hội.

Cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế dưới sự tác động trực tiếp của quy luật cạnh tranh, tranh chấp thương mại cũng trở nên phong phú hơn về chủng loại, gay gắt, phức tạp hơn về tính chất và quy mô. Chính vì thế, việc áp dụng hình thức và phương thức giải quyết tranh chấp sao cho phù hợp, có hiệu quả là một đòi hỏi khách quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, bảo đảm nguyên tắc pháp chế Xã hội chủ nghĩa, thông qua đó góp phần tạo môi trường pháp lý lành mạnh để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ