CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU. Cơ sở lí luận về tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại tín dụng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại. Khái niệm, đặc điểm tín dụng.
Tín dụng là một phạm trù kinh tế. Nó ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Hoạt động vay mượn tồn tại trong khoảng thời gian 2000 – 1500 năm trước công nguyên và hoạt động này còn xuất hiện trước sự ra đời của các ngân hàng. Thuật ngữ “tín dụng” được xuất phát gốc từ La tinh “crediltum” tức là sự tin tưởng, tín nhiệm.
Đã có rất nhiều quan điểm được đưa ra về khái niệm tín dụng. Theo Các-Mác: “Tín dụng dưới hình thái biểu hiện của nó là sự tín nhiệm ít nhiều có căn cứ đã khiến cho người này giao cho người khác một số tư bản nào đó dưới hình thái hàng hóa hoặc được đánh giá thành một số tiền nhất định. Số tiền này bao giờ cũng phải được trả lại trong thời gian đã được ấn định” (Các Mác 1962), Tư bản, quyển 3 tập 2) Theo từ điển Bách Khoa toàn thư của Việt Nam: “Tín dụng là một phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa người đi vay và người cho vay. Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hóa cho vay cho người đi vay trong một thời gian nhất định.
Đến kỳ hạn trả nợ, người đi vay có trách nhiệm hoàn trả toàn bộ số tiền hoặc hàng hóa đã vay, có kèm hoặc không kèm một khoản lãi”. Tín dụng có các đặc điểm chính đó là chỉ chuyển giao quyền sử dụng, không chuyển giao quyền sở hữu; việc chuyển giao quyền sử dụng này có thời hạn xác định, khi đến hạn thì người được cấp tín dụng phải hoàn trả một khoản tiền gốc và lãi cho người cấp tín dụng. Cụ thể, người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị và người đi vay được quyền sử dụng lượng giá trị đó trong một thời gian nhất định. Sau khi khoản vay hết thời hạn sử dụng theo thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay phần vốn gốc cộng với khoản phí cơ hội của việc sử dụng vốn mà người cho vay mất đi.
Vì vậy, giá trị được hoàn trả thường lớn hơn lúc hai bên kí kết hợp đồng tín dụng. Phân loại tín dụng ngân hàng. Tín dụng là một bộ phận trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại. Vì vậy, tín dụng cũng được phân loại tương tự như tín dụng nói chung.
Có rất nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng dựa vào các căn cứ khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên người ta thường phân loại theo một số tiêu thức sau: Căn cứ vào thời hạn cho vay: Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Luật số: 47/2010/QH12) Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn tới 12 tháng, được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân và thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong dư nợ tín dụng của các ngân hàng. Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng. Loại hình tín dụng này thường được các doanh nghiệp sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hay đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ và thời hạn thu hồi vốn nhanh.
Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 60 tháng. Loại tín dụng này để đáp ứng nhu cầu dài hạn của các doanh nghiệp: nhu xây dựng nhà xưởng, thiết bị phương tiện vận tải có quy mô lớn, các công trình xây dựng nhà, sân bay, cầu đường… Phân loại tín dụng theo thời hạn tín dụng chỉ mang tính chất tương đối vì nhiều trường hợp không xác định được chính xác thời hạn tín dụng do nhiều khoản tín dụng được cơ cấu lại kỳ hạn, gia hạn nợ hoặc trả trước hạn. Tuy nhiên việc phân loại cũng giúp cho ngân hàng cân đối được kỳ hạn giữa nguồn vốn và tài sản giúp chủ động trong kế hoạch kinh doanh Căn cứ vào phương thức cấp tín dụng: Theo hình thức cấp tín dụng có thể chia thành chiết khấu, cho vay, bảo lãnh và cho thuê… Cho vay: Là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong thời gian xác định. Cho vay là tài sản lớn nhất trong khoản mục tín dụng.
Thời gian khoản vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng nhận hồ sơ vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. 5 Chiết khấu: Là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn (hoặc một giấy nợ) Cho thuê: Là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để khách hàng thuê với những thoả thuận nhất định, sau thời gian nhất định khách hàng phải trả cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng. Cho thuê của ngân hàng thường là hình thức tín dụng trung và dài hạn. Thời hạn thuê khách hàng có thể mua lại tài sản đó.
Ngân hàng thương mại được hoạt động cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính được thực hiện theo nghị định của chính phủ về tổ chức và hoạt động của các công ty cho thuê tài chính. Bảo lãnh: Là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ khách hàng của mình. Mặc dù không phải xuất tiền ra song ngân hàng đã cho khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi.
Ngân hàng thương mại được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh. Theo quy định chung mức bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một ngân hàng thương mại không vượt quá tỷ lệ vốn tự có của ngân hàng thương mại Căn cứ vào tiêu thức đảm bảo: Sự đảm bảo đối với các khoản cấp tín dụng cho khách hàng là sự đảm bảo bằng tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của bên thứ ba nhằm mục đích hạn chế rủi ro mất mát trong trường hợp người vay không trả được nợ được hay không muốn trả nợ khi đến hạn. Bao gồm 2 loại: Tín dụng có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cấp tín dụng đều có tài sản có giá trị dùng để thế chấp. Có các hình thức đảm bảo bằng tài sản như: thế chấp, cầm cố, chiết khấu và bảo lãnh.
Tín dụng không có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cấp tín dụng không có tài sản thế chấp, chỉ dựa vào tín chấp. Loại hình tín dụng này được áp dụng với khách hàng quen thuộc, có quan hệ lâu dài và tốt đẹp với ngân hàng, những doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh và có uy tín đối với ngân 6 hàng như trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn lãi, phương án sản xuất kinh doanh khả thi, có khả năng hoàn trả nợ. Tài sản đảm bảo là yếu tố quan trọng nhưng không phải là yếu tố tiên quyết ảnh hưởng đến quyết định cấp tín dụng vì điều ngân hàng quan tâm nhất là dòng tiền thực trong tương lai của doanh nghiệp được đánh giá thông qua phương án sản xuất kinh doanh. Đây mới là nguồn trả nợ chính cho khoản cấp tín dụng.
Tài sản đảm bảo chỉ đóng vai trò thứ yếu, đảm bảo nguồn trả nợ thứ hai khi nguồn trả nợ đầu tiên không chắc chắn. Căn cứ vào xuất xứ tín dụng Tín dụng trực tiếp: Ngân hàng cấp tín dụng trực tiếp cho người đi vay đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng. Tín dụng gián tiếp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc các chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán 1. Vai trò của tín dụng Ngân hàng Thứ nhất, tín dụng đã đáp ứng được hầu hết các nhu cầu về vốn của các thành phần kinh tế trong xã hội, giúp cho quá trình sản xuất được liên tục, đẩy mạnh quá trình tái sản xuất.
Đồng thời việc tập trung và phân phối vốn tín dụng đã góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế quốc dân từ nơi thừa đến nơi thiếu. Bên cạnh việc đáp ứng vốn kịp thời đầy đủ cho các Doanh nghiệp, các Ngân hàng còn có những ý kiến đóng góp cho phương án sản xuất kinh doanh, lựa chọn đối tác thông qua quá trình sử dụng vốn của Doanh nghiệp… Thứ hai, tín dụng là kênh chuyển tải tác động của nhà nước đến các mục tiêu kinh tế vĩ mô như việc ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm. Việc bảo đảm được mục tiêu kinh tế vĩ mô hài hoà phụ thuộc một phần vào khối lượng và cơ cấu tín dụng xét cả về mặt thời hạn cũng như đối tượng tín dụng. Mà ở đây khối lượng và cơ cấu tín dụng lại phụ thuộc vào điều kiện tín dụng như lãi suất, điều kiện vay, yêu cầu thế chấp, bảo lãnh và chủ trương mở rộng tín dụng được quy định trong chính sách tín dụng từng thời kỳ.
Như vậy, thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các điều kiện tín dụng Nhà nước có thể thay đổi quy mô tín dụng hoặc chuyển hướng vận động của nền kinh tế cả về quy mô lẫn kết cấu. Sự thay đổi của tổng cầu dưới tác động của chính sách tín dụng sẽ tác động ngược lại với tổng cung 7 và các điều kiện sản xuất khác. Điểm cân bằng cuối cùng giữa tổng cung và tổng cầu dưới tác động của chính sách tín dụng sẽ cho phép đạt được mục tiêu vĩ mô cần thiết. Thứ ba, Tín dụng Ngân hàng là công cụ chủ yếu để đầu tư cho các ngành kinh tế then chốt và các ngành kinh tế kém phát triển.
Hoạt động tín dụng của Ngân hàng là tạp trung lượng vốn nhàn rỗi trong xã hội của các tổ chức, cá nhân để cho các đơn vị kinh tế vay.