CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG TRƯỜNG XUÂN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong nền kinh tế nói riêng là khái niệm mà có nhiều cách nói khác nhau. Khái niệm này được sử dụng trong phạm vi rộng, bao gồm phạm vi quốc gia, phạm vi ngành,.
chỉ khác nhau ở chỗ là mục tiêu được đặt ra ở quy mô quốc gia hay quy mô doanh nghiệp mà thôi. Theo từ điển kinh doanh (1992) ở Anh: “ Cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là sự ganh đua kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình”. Theo Adam Smith (1996): “Cạnh tranh có thể làm giảm chi phí và giá cả sản phẩm, từ đó khiến cho toàn xã hội được lợi do năng suất các doanh nghiệp tăng lên tạo ra.” Theo nhà kinh tế học Michael Porter (1996): “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi” Tóm lại có thể hiểu cạnh tranh là: “Là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường, là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi thế kinh tế, thương mại khác để thu nhiều lợi ích cho mình. Khái niệm năng lực Theo D.H Salganik (2001): “Năng lực không chỉ là kiến thức và kĩ năng, nó nhiều hơn thế. Năng lực bao gồm đáp ứng các yêu cầu phức tạp dựa trên việc huy động các nguồn lực tâm lý (bao gồm cả kỹ năng và thái độ) trong một hoàn cảnh cụ thể.” Theo nhóm tác giả Nguyễn Hoàng Long và Nguyễn Hoàng Việt (2015): “Năng lực chính là khả năng liên kết các nguồn lực để cùng phục vụ cho một mục đích chung. Năng lực biểu thị sự liên kết giữa các nguồn lực hữu hình và vô hình riêng có của mỗi tổ chức.
Năng lực thể hiện khả năng sử dụng các nguồn lực, đã được liên kết một cách có mục đích, nhằm đạt được kết quả mong muốn”. 16 Theo từ điển Tiếng Việt, năng lực là: "Khả năng thực hiện một hoạt động nhất định, do điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên; những phẩm chất tâm lý và thể chất giúp con người có thể hoàn thành một hoạt động nhất định với chất lượng cao." Như vậy, năng lực thể hiện khả năng sử dụng các nguồn lực, đã được liên kết một cách có mục đích tại các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu mong muốn. Khái niệm và sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Khái niệm về năng lực Theo D.H Salganik (2001): “Năng lực không chỉ là kiến thức và kĩ năng, nó nhiều hơn thế.
Năng lực bao gồm đáp ứng các yêu cầu phức tạp dựa trên việc huy động các nguồn lực tâm lý (bao gồm cả kỹ năng và thái độ) trong một hoàn cảnh cụ thể.” Theo nhóm tác giả Nguyễn Hoàng Long và Nguyễn Hoàng Việt (2015): “Năng lực chính là khả năng liên kết các nguồn lực để cùng phục vụ cho một mục đích chung. Năng lực biểu thị sự liên kết giữa các nguồn lực hữu hình và vô hình riêng có của mỗi tổ chức. Năng lực thể hiện khả năng sử dụng các nguồn lực, đã được liên kết một cách có mục đích, nhằm đạt được kết quả mong muốn”. Theo từ điển Tiếng Việt, năng lực là: "Khả năng thực hiện một hoạt động nhất định, do điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên; những phẩm chất tâm lý và thể chất giúp con người có thể hoàn thành một hoạt động nhất định với chất lượng cao." Như vậy, năng lực thể hiện khả năng sử dụng các nguồn lực, đã được liên kết một cách có mục đích tại các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu mong muốn.
Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Theo Michael Porter (1998) : “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao hơn.” Bộ thương mại và công nghiệp Anh (1998) đưa ra định nghĩa: “ Đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả vào đúng thời điểm. Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác 17 Tác giả Vũ Trọng Lâm (2006) cũng cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp”. Tác giả Trần Sửu (2005) cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững”. Như vậy ta có thể hiểu rằng: “ Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đó là thực lực và lợi thế mà doanh nghiệp có dùng để duy trì và cải thiện vị trí của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường một cách lâu dài và có ý chí nhằm thu đợi lợi ích ngày càng cao cho doanh nghiệp của mình” 1.
Một số lý thuyết về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Mô hình các lực lượng điều tiết cạnh tranh của M. Mô hình 5 lực lượng điều tiết cạnh tranh Nguồn: M. Sự cạnh tranh trong ngành Cuộc đối đầu của các đối thủ cạnh tranh đang tham gia thị trường thường mang đặc tính lệ thuộc lẫn nhau.
Ở hầu hết các ngành nghề, những động thái của một công ty sẽ tạo ra tác động có thể quan sát được ở những đối thủ cạnh tranh khác và do vậy làm dấy lên sự trả đũa lại và các phản ứng khác. Các yếu tố: - Số lượng các công ty đối thủ cạnh tranh - Tăng trưởng của ngành - Sự đa dạng của các đối thủ cạnh tranh - Đặc điểm của sản phẩm/dịch vụ - Khối lượng chi phí cố định và lưu kho - Các rào cản rút lui khỏi ngành 1. Đối thủ cạnh tranh tiềm tàng Đối thủ tiềm tàng bao gồm các công ty hiện nay không ra mặt cạnh tranh nhưng vẫn có khả năng cạnh tranh trong tương lai. Sự xuất hiện của đối thủ tiềm ẩn cũng làm tăng cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong ngành.
Khả năng cạnh tranh của đối thủ tiềm tàng được đánh giá qua khái niệm “rào cản” ngăn chặn sự gia nhập vào ngành kinh doanh. Quyền thương lượng của nhà cung ứng Nhà cung ứng là những cá nhân, tổ chức cung cấp các nguồn lực (sản phẩm, dịch vụ, nhiên nguyên liệu, máy móc thiết bị, tài chính, nhân lực,…) cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp. Mối đe dọa từ nhóm này xuất phát từ ảnh hưởng của chúng đến việc tăng hoặc giảm giá thành nguyên vật liệu. Các yếu tố phụ thuộc bao gồm: - Mức độ tập trung: biểu hiện bằng sự phân bổ thị phần trên số lượng nhiều hoặc ít công ty trong ngành.
Ví dụ như có nhiều nhà cung ứng nguyên vật liệu thì mức giá nhập cũng sẽ dao động và dễ dàng có lợi thế cho doanh nghiệp hơn trong việc thương lượng cũng như tạo áp lực lên những doanh nghiệp đối thủ. 19 - Đặc điểm hàng hóa/dịch vụ: Bản chất của ngành xây dựng cũng rất quan trọng các nhà cung ứng, vì sản phẩm chính là công trình cho nên nguyên vật liệu đạt chất lượng cao thì chất lượng công trình cũng tốt hơn. - Chuyên biệt hóa sản phẩm/dịch vụ: Càng đặc biệt và khác biệt thì khả năng thay thế sản phẩm càng khó, quyền lực của nhà cung ứng sẽ lớn. - Người mua phải gánh chịu một chi phí cao do thay đổi nhà cung cấp.
- Khả năng tích hợp về phía sau (phía trước): Với mức chi phí hợp lý sẽ cho phép các nhà cung ứng tăng cường quyền lực thương lượng của mình đối với khách hàng và ngược lại. Quyền thương lượng của khách hàng Khách hàng là những cá nhân tổ chức có nhu cầu về sản phẩm hay dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp. Mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng là mối quan hệ giữa người mua và người bán là mối quan hệ tương quan thế lực. Khách hàng là đối tượng có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến các chiến lược kinh doanh, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển lâu dài của các doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, khách hàng chính là mối quan tâm hàng đầu, mọi nỗ lực của doanh nghiệp đều là muốn khách hàng chú ý, kích thức sự quan tâm của khách hàng, thúc đẩy khách hàng đến với sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp. Khách hàng có thể gây áp lực đối với nhà cung ứng qua các điều kiện sau: - Khi có ít người mua: tạo sức ép lớn cạnh tranh giữa những người bán - Khi người mua một sản lượng lớn và tập trung: sẽ có sự mặc cả về giá bán - Khi sản phẩm hay dịch vụ không khác biệt và họ có thể tìm thấy nhiều nguồn cung khác nhau - Khi khách hàng đe dọa hội nhập về phía sau: bằng cách mua đứt người bán hay tự đầu tư và khép kín quá trình sản xuất, sản xuất các sản phẩm chất lượng hơn và chủ động hơn. Sự đe dọa đến từ sản phẩm thay thế Chủ yếu xuất phát từ các tiến bộ khoa học công nghệ, xuất phát từ các sản phẩm/dịch vụ đến từ ngành khác nhưng có khả năng thay thế cho sản phẩm/dịch vụ hiện đã tồn tại trong việc thỏa mãn nhu cầu như nhau hoặc có thể tăng cường với chi phí cạnh tranh. Những sản phẩm thay thế mà doanh nghiệp cần phải quan tâm nhất là những sản phẩm nằm trong xu hướng có thể cạnh tranh giá cả với sản phẩm hiện tại trong ngành hoặc được sản xuất bới những ngành nghề đang có lợi nhuận cao.
Để kiểm soát được vấn đề này, nhà hoạch định cần nghiên cứu rộng hơn nhiều đặc tính cùng với đó là phải nắm bắt kịp thời các thông tin cũng như sự ra đời của các công nghệ mới, những xu thế mới có thể sẽ trở thành bất lợi cho doanh nhiệp không.