Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀGIAO KẾT, THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG 1. Một số vấn đề lý luận về giao kết hợp đồng 1. Khái niệm giao kết hợp đồng Xét về bản chất, hợp đồng là sự thống nhất ý chí của các bên. Tuy nhiên sự thống nhất ý chí không phải chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên mà trong nhiều trường hợp đó chính là kết quả của quá trình trao đổi, đàm phán để đạt được sự thỏa thuận và thống nhất ý chí về việc cùng nhau tạo lập hợp đồng.
Quá trình đó được định danh trong luật bằng thuật ngữ pháp lý “giao kết hợp đồng”. Thuật ngữ “giao kết hợp đồng” là một thuật ngữ pháp lý quan trọng của pháp luật hợp đồng. Tuy nhiên, cách hiểu về thuật ngữ này cũng tồn tại nhiều quan điểm không đồng nhất. Trong Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học (Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Tố tụng Dân sự) của Trường Đại học Luật Hà Nội có đề cập đến khái niệm “giao kết hợp đồng” và cho rằng: “Giao kết hợp đồng dân sự là việc các bên bày tỏ và thống nhất ý chí với nhau dưới hình thức lời nói (bằng miệng) hoặc văn bản theo những nguyên tắc và trình tự nhất định nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự đối với nhau trong hợp đồng dân sự”.
Có thể thấy cách hiểu này đã nêu ra được những đặc điểm cơ bản củaquá trình giao kết hợp đồng, tuy nhiên việc liệt kê các hình thức bày tỏ và thống nhất ý chí là hình thức bằng “lời nói” và “văn bản” đã thể hiện sự hạn chế và chưa thật sự phù hợp với thực tế của giao kết hợp đồng. Không đề cập đến vấn đề hình thức và nội dung của giao kết hợp đồng, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam Trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng: “Giao kết hợp đồng dân sự là việc các bên bày tỏ ý chí với nhau theo những nguyên tắc và trình tự nhất định để qua đó xác lập với nhau các quyền, nghĩa vụ dân sự”. Có quan điểm khá tương đồng với quan điểm của Trường Đại học Luật Hà Nội, TS. Lê Minh Hùng đưa ra khái niệm giao kết hợp đồng như sau: “Giao kết hợp đồng là việc các bên chủ thể bày tỏ ý chí muốn cùng nhau xác lập hợp đồng thông qua sự bàn bạc, trao đổi, thương lượng theo các nguyên tắc và trình tự do luật định để đạt được sự đồng thuận nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng giữa các bên với nhau”.
Qua việc tìm hiểu các khái niệm về giao kết hợp đồng, có thể thấy các quan điểm trên mặc dù có cách diễn đạt khác nhau nhưng tất cả đều đi đến chung bản chất của giao kết hợp đồng là một quá trình pháp lý phức tạp, bao gồm ba yếu tố: có sự tham gia của các bên 7 trong hợp đồng, có sự bày tỏ ý chí đơn phương của từng bên về việc muốn tạo lập hợp đồng và có sự kết hợp ý chí riêng của mỗi bên để tạo ra sự đồng thuận trong hợp đồng. Để giao kết hợp đồng có hiệu lực, các bên phải bày tỏ ý chí theo những hình thức được pháp luật chấp nhận. Như vậy, giao kết hợp đồng dân sự có thể hiểu là quá trình bày tỏ, thống nhất ý chí giữa các bên theo hình thức, nội dung, nguyên tắc, trình tự nhất định được pháp luật thừa nhận nhằm xác lập quyền, nghĩa vụ đối với nhau. Trình tự giao kết hợp đồng Quá trình giao kết hợp đồng bao gồm hai giai đoạn: giai đoạn đề nghị giao kết hợp đồng và giai đoạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Đề nghị giao kết hợp đồng Để khởi tạo một hợp đồng, cần có sự khởi xướng của một bên đầu tiên. Thường thì sự khởi xướng của một bên có thể bắt đầu bằng những tuyên bố có tính chất đề xuất thương lượng hợp đồng hoặc là đề nghị giao kết hợp đồng. Về mặt lý luận, đề nghị giao kết hợp đồng được hiểu là một hành vi pháp lý đơn phương của một bên nhằm thể hiện ý chí của mình về việc muốn cùng một bên (có thể là một hoặc nhiều người xác định) giao kết hợp đồng với những nội dung và điều kiện cụ thể. Đề nghị giao kết hợp đồng phải đáp ứng được những yêu cầu pháp lý nhất định, thường là các yêu cầu như sau: Một là, lời đề nghị được đưa ra bởi người có tư cách giao kết, xác lập hợp đồng.
Muốn trở thành chủ thể của các quan hệ dân sự, các chủ thể phải có tư cách chủ thể để tham gia quan hệ pháp luật trong lĩnh vực tương ứng đó. Vì vậy, một lời đề nghị muốn có hiệu lực ràng buộc với bên đưa ra đề nghị, chủ thể đưa ra đề nghị phải có năng lực chủ thể và tư cách chủ thể để tham gia vào quan hệ pháp luật hợp đồng. Năng lực chủ thể ở đây bao gồm cả năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của chủ thể. Hai là, nội dung của lời đề nghị phải rõ ràng, cụ thể.
Một đề nghị phải xác định rõ ràng, nếu không, nó không được coi là một đề nghị giao kết hợp đồng mà chỉ là một đề nghị thương lượng hợp đồng. Tính xác định của một đề nghị thể hiện ở nội dung của nó. Tùy vào quan niệm pháp lý khác nhau mà tính rõ ràng, cụ thể của nội dung hợp đồng có thể được hiểu khác nhau. Có quan điểm cho rằng, đề nghị giao kết hợp đồng phải chứa đựng các nội dung cơ bản của hợp đồng tương lai, để đảm bảo rằng khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị thì hợp đồng được giao kết với nội dung được xác định trong đề nghị và tránh được việc tòa án tuyên bố hợp đồng, đề nghị giao kết hợp đồng vô hiệu nếu thiếu các điều khoản chủ yếu.
Một quan điểm khác, theo GS. Vũ Văn Mẫu: “trong đề nghị cần phải nêu rõ ràng về các nội dung tối thiểu, thể hiện được bản chất và chủ đích của 8 hợp đồng”. Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai. Bởi vì việc bắt buộc đề nghị giao kết hợp đồng phải chứa đựng đầy đủ những nội dung cơ bản của hợp đồng là thiếu tính khả thi, không phù hợp với yêu cầu của thực tiễn đời sống.
Nhưng nếu một đề nghị không hàm chứa những thông tin quan trọng thể hiện rõ ý định cụ thể của bên đề nghị về việc giao kết loại hợp đồng gì thì cũng sẽ không đủ cơ sở để coi đó là một đề nghị có giá trị pháp lý, vì không có nội dung cụ thể để có thể hiểu và thực hiện chúng. Chính vì vậy, sự rõ ràng và xác định của đề nghị giao kết hợp đồng có nghĩa là đề nghị giao kết đó phải thể hiện được mong muốn, chủ đích của hợp đồng và sự thiện chí của bên đề nghị giao kết. Ba là, đề nghị phải được gửi đến cho một hoặc nhiều người xác định. Lời đề nghị phải được đưa ra cho một bên khác xác định.
Người nhận đề nghị có thể là một thể nhân hoặc một pháp nhân: cá nhân được xác định bởi họ tên, quốc tịch, hộ khẩu thường trú (hoặc địa chỉ tạm trú); pháp nhân được xác định bởi tên, gọi, trụ sở và quốc tịch. Tính xác định của người được đề nghị thường được thể hiện khi bên đề nghị gửi đề nghị giao kết hợp đồng, vì khi đó bên đề nghị đã xác định được họ muốn giao kết hợp đồng với ai. Việc hiểu như thế nào về một hoặc nhiều người xác định đã dẫn đến trên thế giới hiện nay có hai xu hướng khác nhau tiếp cận về đề nghị giao kết hợp đồng liên quan đến người được đề nghị. Theo xu hướng thứ nhất, đề nghị giao kết hợp đồng có thể được thể hiện đối với một chủ thể xác định cũng như đối với công chúng (quảng cáo, thông báo.
Những người theo xu hướng này giải thích “tính xác định cụ thể của người đề nghị” không phụ thuộc vào số lượng người mà chỉ cần trong lời đề nghị đưa ra được những tiêu chí khách quan để có thể xác định được rõ bên mà đề nghị sẽ được gửi tới. Xu hướng thứ hai là chỉ chấp nhận những đề nghị được thể hiện đối với một hay nhiều chủ thể được xác định hay có thể được xác định. Một lời đề nghị không thể được gửi tới công chúng vì công chúng là một tập người không xác định. Bốn là, bên đề nghị thật sự có ý muốn tạo lập hợp đồng.
Đề nghị phải thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và mong muốn được ràng buộc của bên đưa ra đề nghị đối với bên được đề nghị về những nội dung của đề nghị trên cơ sở nguyên tắc trung thực và thiện chí. Điều này thể hiện ở chỗ tuyên bố đề nghị giao kết hợp đồng phải là một hành vi nghiêm túc, thể hiện ý nguyện thực sự của bên đề nghị về việc muốn cùng bên kia giao kết, xác lập hợp đồng, bên được đề nghị tin tưởng rằng chỉ cần trả lời chấp nhận là hợp đồng được ký kết, sự chắc chắn đó tạo ra những ràng buộc pháp lý đối với bên đưa ra đề nghị. Để xác định ý chí mong muốn bị ràng buộc, người ta dựa vào tiêu chí: cách thức bên đề nghị trình bày một đề nghị, nội dung của bên đề nghị. Như vậy, đề nghị giao kết hợp đồng khác với lời đề xuất, chào mời thương lượng vì tính chất ràng buộc pháp lý của nó.
Đề xuất, chào mời thương lượng (mời đàm phán hợp 9 đồng) thường chỉ nêu ra sơ lược ý định giao dịch hay gợi ý để đối tác đặt hàng hay chào hàng. Do vậy, về mặt pháp lý, lời chào mời thương lượng hợp đồng hay đề xuất không có giá trị pháp lý ràng buộc đối với người mời. Trái lại, lời đề nghị giao kết hợp đồng được tạo ra hợp pháp, đáp ứng được những yêu cầu pháp lý được trình bày ở trên thì có hiệu lực ràng buộc đối với bên đưa ra đề nghị. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Chấp nhận đề nghị giao kết là lời hồi đáp của bên nhận được đề nghị với bên đề nghị để tạo nên một hợp đồng có hiệu lực ràng buộc giữa các bên.