ĐẶT VẤN ĐỀ 1. LÝ DO HÌNH THÀNH NGHIÊN CỨU Xung đột luôn là một trong những vấn đề rất thường hay xảy ra trong các dự án xây dựng. Theo tiến trình phát triển, nếu xung đột không được nhận dạng và giải quyết sớm giữa các bên sẽ dẫn đến khiếu nại và cuối cùng là tranh chấp. Ở Việt Nam đã có không ít các dự án xây dựng xảy ra tranh chấp giữa Chủ đầu tư, nhà thầu thi công, đơn vị tư vấn.
Một số trường hợp đã được công bố lên các phương tiện truyền thông đại chúng như: Dự án đường sắt đô thị Thành phố Hồ Chí Minh: Theo những thông tin trên báo chí trong thời gian gần đây, vì vướng mặt bằng tại Công ty Vĩnh Phát khiến việc thi công dự án Metro số 1 bị ách tắc. Trước sự chậm chễ này, phía nhà thầu Nhật Bản đã khiếu nại và yêu cầu nếu không bàn giao mặt bằng đúng hẹn, chủ đầu tư sẽ phải bồi thường cho nhà thầu 100. Hiện nhà thầu đang tính toán các mức thiệt hại cũng như chứng minh các lỗi của phía Việt Nam.[1] Dự án Bệnh Viện Ung Bứu 2:Tháng 07/2015, liên doanh HBC và Thuận Việt khiếu nại Ban Quản lý Đầu tư xây dựng các công trình thuộc Sở Y tế TP.HCM (gọi tắt là BQL) tại dự án BV Ung bứu 2 tại Quận 9. Họ cho rằng, BQL đã không thực hiện thông báo của UBND TP về việc giao cho HBC làm tổng thầu EPC BV Ung bướu 2.
Ngoài ra, liên doanh này cho biết, BQL đã đưa tiêu chí đánh giá hồ sơ, năng lực chỉ định thầu không phù hợp với quy định, không đầy đủ, rõ ràng. Khiếu nại này khiến dự án phải chậm tiến độ so với kế hoạch đề ra. [2] Dự án Petrovietnam Landmark tại An Phú, Quận 2, Tp.HCM:tháng 03/2013, Chủ đầu tư dự án là Công ty CP Địa ốc Dầu khí (PVL), đã phải thay nhà thầu thi công khác thay cho nhà thầu thi công ban đầu là Công ty Xây lắp PVC Sài Gòn.Nguyên nhân xuất phát từ việc nhà thầu có năng lực yếu kém, khiến công trình chậm trễ tiến độ. Ngoài ra, việc xử lý những tranh chấp tồn tại giữa hai bên cũng góp phần khiến cho thời gian thực hiện dự án bị kéo dài, khách hàng mất niềm tin nơi chủ đầu tư, giá bán căn hộ giảm.
Có thể thấy đó là một thiệt hại lớn cho tất cả các bên tham gia dự án. [3] Dự án Đại lộ Đông Tây:Tháng 03/2013, Báo cáo với Bộ Kế hoạch - Đầu tư mới đây, UBND TPHCM cho biết một trong những vướng mắc ảnh hưởng đến 2 tiến độ dự án xây dựng đại lộ Đông Tây là giữa chủ đầu tư (Ban Quản lý đầu tư xây dựng công trình giao thông đô thị TP) và các nhà thầu (tư vấn, xây dựng) tranh chấp trong thực hiện các hợp đồng. Nhà thầu Obayashi đã khởi kiện chủ đầu tư tại Tòa án Quốc tế về thương mại (ICC). UBND TPHCM cho biết đã chỉ đạo chủ đầu tư thực hiện các thủ tục pháp lý theo quy định, đồng thời đàm phán với nhà thầu theo hướng hòa giải nhằm giải quyết các vướng mắc, tranh chấp để không phải đi đến tranh tụng tại tòa án (ở Hồng Kông).
[4] Trên đây chỉ là một phần nổi các vụ việc tranh chấp đối với dự án xây dựng lớn diễn ra tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, còn nhiều vụ việc tranh chấp khác nhỏ hơn, trong đó các bên liên quan có thể âm thầm giải quyết với nhau thông qua các buổi thương lượng, các tổ chức trọng tài hoặc thậm chí là tòa án nhưng không công bố lên các phương tiện thông tin đại chúng. Có thể thấy hậu quả của tranh chấp là rất lớn, thường kéo theo những hệ lụy mà các bên tham gia dự án đều không mong muốn như: chậm trễ tiến độ, phát sinh chi phí liên quan, tiêu hao nguồn lực cho việc giải quyết tranh chấp, phá vỡ mối quan hệ giữa các bên. Mà nguồn gốc của các tranh chấp lại thường là những xung đột không được giải quyết triệt để giữa các bên tham gia trong quá trình thực hiện dự án.
Tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về các nguyên nhân gây xung đột trong các dự án xây dựng. Việc nghiên cứu tìm kiếm các nguyên nhân quan trọng gây xung đột trong các dự án xây dựng sẽ giúp cho các bên tham gia dự án có thể lường trước những tình huống mâu thuẫn có mức độ ảnh hưởng lớn đến hoạt động của dự án.Từ đó, các bên liên quan có thể xây dựng một chiến lược để xử lý các xung đột một cách tối ưu, nhằm giảm thiểu các tình huống dẫn đến tranh chấp, khiếu nại mà các bên đều không mong muốn. XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Vấn đề nghiên cứu là nhận dạng những yếu tố quan trọng gây xung đột trong các dự án xây dựng tại TP. Hồ Chí Minh.
Các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là: Những nguyên nhân nào dẫn đến xung đột giữa các bên tham gia dự án? Mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân đến hoạt động dự án? Đâu là những yếu tố xung đột có ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động dự án? 3 Các giải pháp để khắc phục vấn đề xung đột? 1. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát:Xác định các yếu tố xung đột quan trọng trong các dự án xây dựng tại TP. Hồ Chí Minh. Mục tiêu cụ thể: Xác định các yếu tố gây xung đột quan trọng trong các dự án xây dựng tại TP.
Hồ Chí Minh. Phân tích và nhóm các yếu tố/quá trình gây xung đột quan trọng. Đề xuất biện pháp hạn chế và giải quyết các xung đột. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Không gian thực hiện: các dự án xây dựng đang được thực hiện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Thời gian thực hiện: từ tháng 14/02/2016 đến tháng 01/07/2016. Đối tượng nghiên cứu: các yếu tố gây xung đột trong các dự án xây dựng tại TP. Hồ Chí Minh. Đối tượng khảo sát: các kỹ sư đang công tác trong các đơn vị là Chủ đầu tư, Nhà thầu thi công, Ban quản lý dự án, Tư vấn giám sát và Tư vấn thiết kế.
ĐÓNG GÓP DỰ KIẾN CỦA ĐỀ TÀI Về mặt lý luận:kết quả nghiên cứu của đề tài giúp nhận dạng những yếu tố quan trọng gây xung đột trong các dự án xây dựng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là cơ sở để mở rộng nghiên cứu về các nguyên nhân gây xung đột tại các dự án xây dựng tại Việt Nam nói chung. Về mặt thực tiễn: việc tìm hiểu các nguyên nhân gây mâu thuẫn, xung đột có thể giúp cho các bên tham gia dự án có thể hoạch định dự án một cách tốt hơn thông qua việc dự đoán trước những xung đột có khả năng xảy ra và phương án giải quyết. Kết quả của việc lường trước những xung đột có khả năng xảy ra sẽ giúp cho các bên duy trì tốt mối quan hệ khi thực hiện dự án, đồng thời qua đó các yếu tố liên quan như tiến độ, chất lượng, chi phí thực hiện dự án cũng sẽ được cải thiện hơn.
4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 2. KHÁI NIỆM VỀ XUNG ĐỘT 2. Định nghĩa xung đột Theo TS. Nguyễn Hữu Lam trong tài liệu bài giảng xung đột thì xung đột là quá trình một bên cảm nhận rằng những quyền lợi của họ bị bên kia chống lại hoặc bị ảnh hưởng một cách tiêu cực bởi hành động của bên kia.
Theo Collins English Dictionary (1995), xung đột là “sự bất đồng ý kiến hay sự tranh cãi lớn về những vấn đề rất quan trọng”.Theo Wilmot and Hocker(1998) thì xung đột là “sự đấu tranh giữa tối thiểu hai bên có sự phụ thuộc về mục tiêu, nhu cầu tài nguyên, và sự can thiệp từ bên thứ ba trong việc tranh dành mục đích”. Theo Thomas (1976), xung đột là “một tiến trình khởi đầu khi một bên nhận thấy đối tác đã thất bại hoặc phá vỡ một số mối quan tâm của mình”. Wall và Callister (1995) và Robbins & Judge (2009) cũng đã đưa ra định nghĩa tương tự. (trích dẫn trong Yong Qiang Chen; Yang Bing Zhang, M.ASCE; and Su Juan Zhang 2014) Nhìn chung, xung đột trong các khái niệm được nêu trên đều mang hàm ý rằng đó là sự bất đồng về quan điểm giữa các bên tham gia trong mối quan hệ của mình.
Phân biệt xung đột và tranh chấp Mặc dù “xung đột” và “tranh chấp” có mang ý nghĩa gần giống liên quan đến sự bất đồng ý kiến hoặc tranh cãi giữa hai bên. Tuy nhiên, hai từ ngữ trên vẫn có những khác biệt nhất định về mức độ mà theo đó “tranh chấp” là mức độ cao hơn của “xung đột”. “Xung đột” là nguồn gốc dẫn đến “tranh chấp”, và “xung đột” thì có thể giải quyết thông qua thương lượng đàm phán giữa các bên, trong lúc “tranh chấp” thì thường phải nhờ đến một bên thứ ba để giải quyết như tòa án hoặc trọng tài. Theo Acharya, Lee and Kim (2006), quy trình tiến triển từ xung đột đến tranh chấp được thể hiện như mô hình sau: 5 Rủi ro Xung đột Khiếu nại Tranh chấp Phân định Quản lý Giải quyết không rõ không rõ không thỏa đáng Hình 2-1: Sơ đồ Rủi ro, Xung đột, Khiếu nại, Tranh chấp phỏng theo nghiên cứu của Acharya, Lee and Kim (2006) 2.
Các loại xung đột Theo Jehn and Mannix (2001), có 3 loại của xung đột gồm có: xung đột mối quan hệ, xung đột trong nhiệm vụ công việc và xung đột quá trình thực hiện. Xung đột mối quan hệ được hiểu là sự không tương thích giữa các cá nhân, bao gồm các trạng thái tình cảm chẳng hạn như cảm giác căng thẳng và xung đột. Nó liên quan đến các vấn đề cá nhân như không thích giữa các thành viên trong nhóm bao gồm cảm giác khó chịu, bực bội, và giận dữ. Trong khi đó, xung đột nhiệm vụ công việc là sự khác biệt trong quan điểm và ý kiến liên quan đến công việc của một nhóm.
Nó có thể được biểu hiện bởi các cuộc họp với những bất đồng lớn về ý kiến cá nhân về công việc và nhiệm vụ, nhưng những bất đồng này không phải xuất phát từ những trạng thái cảm xúc của các cá nhân tham gia.Cuối cùng, xung đột tiến trình thực hiện công việc là những tranh cãi về những cách thức khác nhau để hoàn thành một nhiệm vụ công việc. Nó liên quan trực tiếp đến vai trò trách nhiệm và nguồn lực thực hiện nhiệm vụ, chẳng hạn như ai phải thực hiện các công việc gì và trách nhiệm của người đó ra sao. Ngoài ra, theo Stephen O.